Top 10 Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" của Kim Lân (lớp 12) hay nhất

105.6k

Kim Lân là một nhà văn chuyên viết truyện ngắn, am hiểu sâu sắc về nông thôn Việt Nam với những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê. Ông viết...xem thêm ...

Top 0
(có 3 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 1

Kim Lân là một nhà văn chuyên viết truyện ngắn, am hiểu sâu sắc về nông thôn Việt Nam với những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê. Ông viết chân thật và xúc động về cuộc sống của người dân quê với tình cảm đứa con của ruộng đồng. Và tác phẩm "Vợ nhặt" được trích từ tập "Con chó xấu xí" của ông là một trong số những tác phẩm tiêu biểu tái hiện được chân thật cuộc sống khổ cực của người nông dân trước nạn đói khủng khiếp 1945. Qua tác phẩm, ta thấy nổi bật lên chi tiết bữa cơm ngày đói của gia đình Tràng gây nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.


Truyện ngắn Vợ nhặt tiền thân là tiểu thuyết "Xóm ngụ cư" được Kim Lân sáng tác ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.


Chi tiết bữa cơm ngày đói cũng là bữa cơm đầu tiên đón con dâu về nhà Tràng là một chi tiết đặc sắc vừa tái hiện chân thực tình cảnh khốn cùng của người nông dân trong hoàn cảnh nạn đói hoành hành, vừa mang một giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc. Thông thường bữa cơm ngày đầu tiên đón con dâu về sẽ rất quan trọng vì nó thể hiện được sự gắn kết của con dâu với nhà chồng. Nhưng với gia đình Tràng thì bữa cơm đầu tiên ấy lại vô cùng đơn giản đến thảm hại "Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành". Chỉ với những chi tiết đơn giản nhưng Kim Lân đã khắc họa được sự khủng khiếp của nạn đói lúc ấy. Lúc này ăn chỉ để sống qua ngày, con người đang cố gắng giành lấy chút sự sống mong manh từ tử thần. Bữa cơm được chuẩn bị vô cùng sơ sài đến thảm hại, chắc hẳn chúng ta ai cũng biết với bữa cơm như vậy thì sao mà ăn ngon lành cho được nhưng ở đây cả gia đình Tràng đều ăn rất ngon lành.


Có lẽ ai cũng hiểu được hoàn cảnh lúc này nhưng họ cố nén cảm xúc trong lòng và cố tỏ ra vui vẻ để động viên nhau, làm động lực giúp nhau vượt qua hoàn cảnh khốn cùng này. Nhưng cũng có lẽ đó là niềm vui thật sự bởi dù trong gian khổ nhưng họ vẫn có nhau, vẫn lạc quan và vẫn hạnh phúc yêu thương nhau. Vượt qua mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu hà khắc và hoàn cảnh nghèo khó bà cụ Tứ vẫn đón nhận, cảm thông và yêu thương cô con dâu mới, gia đình họ vô cùng hòa hợp, hạnh phúc. Chính vì thế mà trong bữa cơm "Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà... này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem". Những câu chuyện bà nói đều là những chuyện tốt đẹp sau này, đều nói về tương lai tươi sáng đầy hy vọng phía trước. Qua đây ta thấy được sự lạc quan, luôn hướng về phía trước của bà cụ Tứ, cũng như của cả đất nước trong cái giai đoạn khó khăn cực khổ ấy.


Nhưng những tiếng cười cũng như niềm hy vọng mong manh của cả gia đình nhanh chóng bị dập tắt vì "niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn". Dường như đã liệu được tình huống này sẽ xảy ra người mẹ nghèo khó với tấm lòng nhân hậu, thương người và hết mực thương yêu con đã "lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Vừa khuấy khuấy vừa cười: chè khoán đây, ngon đáo để cơ". Tuy nói là chè khoán nhưng thật sự đó là nồi cháo cám chát xít, vốn là thứ thức ăn của súc vật. Qua đây, ta càng thấm thía hơn cái thực trạng tàn khốc của nạn đói 1945 và tội ác tàn bạo của phát xít và tay sai đẩy những con người khổ cực ấy vào tình cảnh khốn cùng. Nhưng qua đây ta lại càng thấy ngời lên được những phẩm chất tốt đẹp của con người, họ bị bần cùng hóa nhưng không hề tha hóa.


Nổi bật nhất đó chính là bà cụ Tứ, nào đâu phải bà không biết nồi cháo cám kia chát xít chẳng hề ngon lành gì nhưng bà vẫn bảo "ngon đáo để cơ" mà là bà đang cố động viên con mình cũng như con dâu vượt qua hoàn cảnh khó khăn lúc ấy. Ta cảm thấy như bà mẹ già đang cố kìm nén những cảm xúc tủi hờn nhất, những nỗi lo lắng khôn nguôi về tương lai vào tận sâu trong lòng để cười mà động viên các con: "Cám đấy mày ạ", "Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy", gieo vào lòng các con mình niềm hy vọng sống và vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Thật xót xa biết bao! Bà cụ Tứ quả thật là một người mẹ nhân hậu, đảm đang, hết mực yêu thương con, sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp của một người mẹ nông thôn Việt Nam. Hơn thế nữa, chẳng phải ngẫu nhiên mà Kim Lân lại để người mẹ ở cái tuổi xế chiều ấy là người lạc quan nhất, luôn đon đả kể chuyện vui và luôn động viên, gieo hy vọng vào lòng các con mình. Bởi lẽ, một người gần đất xa trời như bà cụ Tứ mà còn khát khao sống mãnh liệt đến như vậy thì những người trẻ hơn sẽ lấy đó làm động lực mà tiếp tục nuôi hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Bà cụ Tứ là người thắp lửa, giữ lửa, và truyền ngọn lửa khát khao sống, khát khao thoát khỏi đói nghèo, khát khao tự do đến với các con cũng như những người khác.


Không chỉ có bà cụ Tứ mà qua hình ảnh bữa cơm ngày đói nhất là ở chi tiết nồi cháo cám ta còn thấy được sự chuyển biến trong tính cách cũng như thái độ của anh Tràng và người vợ nhặt. Khi Tràng gợt một miếng cháo cám bỏ vội vào miệng "mắt hắn chum ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ". Qua đây ta thấy anh Tràng là một người vô cùng khéo léo trong cách ứng xử. Mặc dù có hổ thẹn vì không lo được cho vợ một bữa cơm đón dâu đầy đủ nhưng anh cũng hiểu được hoàn cảnh mà không một lời oán than. Còn với người vợ nhặt, ta thấy được sự chuyển biến trong tính cách của thị vô cùng rõ ràng. Ta không còn thấy một người đàn bà "chỏng lỏn", "đanh đá", "chua ngoa" và "cong cớn, sưng sỉa" khi nói chuyện với anh Tràng, ta không còn thấy người đàn bà bỏ hết cả sự duyên dáng và danh dự vì miếng ăn mà "cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc" trong ngày anh Tràng đưa thị về làm vợ. Mà thay vào đó là một người đàn bà hiểu chuyện: khi nhận bát cháo cám từ tay mẹ chồng "người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tốt lại. Thị điềm nhiên và vào miệng". Ta thấy được thị là người dâu hiền, vợ thảo, hiểu chuyện và biết chấp nhận và cảm thông với gia đình chồng mà không một lời kêu ca, muốn cùng gia đình chồng vượt qua khó khăn. Đồng thời, ta cũng thấy được nổi khao khát một mái ấm gia đình hạnh phúc của người đàn bà ấy cho dù có khó khăn nhưng thị vẫn đồng cảm và sẵn sàng đồng cam cộng khổ cùng nhà chồng. Thật đáng quý!


Không chỉ dừng lại ở đó, chi tiết bữa cơm ngày đói còn phản ánh được cái hiện thực tàn khốc lúc đó và lên án tội ác tàn bạo của bọn phát xít và tay sai. Chúng bắt người dân ta phải nhổ lúa trồng đay, triệt đường sống của người nông dân lương thiện. Chúng khiến người dân ta sống cũng như chết, sống lay lắt, vất vưởng như những thây ma ngoài đường, nhiều khi sống cũng không bằng chết. Nhân dân ta phải ăn cháo cám, thứ thức ăn của gia súc, thậm chí có nhà còn không có cám mà ăn. Trong hoàn cảnh ấy, cháo cám lại như một thứ đồ xa xỉ. Quả thật là một hiện thực tàn khốc.


Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn: bữa cơm đón dâu thảm hại chỉ với niêu cháo lõng bõng cùng nồi cháo cám chát xít. Kết hợp với nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật chân thật, sinh động với cách miêu tả tâm lí sắc sảo, tinh tế cũng như nghệ thuật trần thuật mộc mạc, chắt lọc, có sức gợi cảm cao Kim Lân đã xây dựng lên được bữa cơm ngày đói của gia đình Tràng trong ngày đầu đón con dâu thật chân thật và nhiều ý nghĩa.


Hình ảnh bữa cơm ngày đói mà đặc biệt là nồi cháo cám đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Ta thấy được một hiện thực nạn đói vô cùng tàn khốc nhưng qua đó lại ngời lên những phẩm chất, giá trị tốt đẹp của con người. Trong cái khó khăn, bần cùng cơ cực ấy nhưng họ vẫn có nhau, vẫn yêu thương nhau, vẫn hạnh phúc và luôn lạc quan tin tưởng vào cách mạng thành công và tương lai tươi sáng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 1
(có 0 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 2

“Vợ Nhặt” một trong những tác phẩm thành công của nhà văn Kim Lân. Những trang văn của ông thấm đượm được tính hiện thực những năm nạn đói 1945. Đặc biệt việc xây dựng chi tiết rất thành công của Kim lân giúp tác phẩm càng trở nên thu hút và gây ấn tượng với người đọc. Trong đó, bữa ăn đầu tiên đón nàng dâu mới ở phần cuối tác phẩm gây nên nhiều suy nghĩ trong lòng độc giả.


Mặc dù chi tiết bữa cơm đón nàng dâu ngày đói ở cuối tác phẩm là một chi tiết nhỏ nhưng lại có sức ám ảnh và lay động người đọc. Thông thường, bữa cơm đón nàng dâu mới là một bữa ăn có vai trò quan trọng thể hiện sự gắn kết, đầm ấm giữa gia đình nhà chồng với thành viên mới trong gia đình. Thế nhưng, trong truyện ngắn “Vợ nhặt” bữa ăn này lại hết sức đơn giản nếu không muốn nói là tuềnh toàng và thảm hại. “Giữa cái mẹt rách… muối ăn với cháo”. Ở đây, Kim Lân đã thể hiện tài năng ngôn ngữ của mình với đầy sức gợi hình và gợi tả. Bữa ăn chỉ được chuẩn bị qua loa, sơ sài. Nó nói lên sự nghèo đói của một gia đình ở tầng lớp dưới cùng của xã hội. Đồng thời, chính bữa cơm này cũng tái hiện lại chân thực cái đói cái nghèo những năm 1945. Họ đang cố gắng giành giật lại từng chút sự sống từ bàn tay của tử thần. Và điều cần nhất lúc này không đòi hỏi đến ăn ngon, đủ ăn mà chỉ cần có ăn để được sống. Do đó, xét trong tình cảnh hiện thực năm 1945 mặc dù bữa cơm có đơn sơ, tuềnh toàng và sơ sài bao nhiêu thì bữa cơm do bà cụ Tứ là một sự cố gắng trong hoàn cảnh giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Đặc biệt, liêu cháo loãng nhanh chóng hết nên mẹ con cụ Tứ phải ăn cám. Đồ ăn vốn dĩ dành cho động vật, không phải cho con người.


Nhưng trái ngược với những thứ đơn sơ, với cái đói cái nghèo là không khí đầm ấm trong bữa ăn. “Cả nhà đều ăn rất ngon lành”. Nhưng đến lúc phải ăn cám thì “một nỗi tủi hờn len vào tâm trí của mọi người”. Tuy nhiên, họ vẫn chấp nhận, cam chịu, nén những tủi nhục vào bên trong chứ không một lời ca thán. Cả cô con dâu kia, dường như cũng hiểu được tình cảnh trớ trêu để chấp nhận lấy chồng trong cái nghèo, cái đói bủa vây như vậy. Bao trùm không khí bữa ăn vẫn dào dạt tình người. Bà cụ Tứ chắt chiu từng chút niềm vui, cố gắng tạo ra không khí hòa hợp, vui vẻ. “Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện… toàn chuyện sung sướng về sau này”. Bà vừa là người thắp lửa và cũng là người truyền lửa. Thắp lên những niềm vui, lạc quan vào cuộc sống và truyền cho con cái những lạc quan ấy để các con hướng về tương lai. Đặc biệt là câu nói bông đùa của bà cụ Tứ “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Câu nói toát lên khí chất của một bà mẹ vừa hóm hỉnh, nhân hậu nhưng cũng đầy đắng cay trong câu nói để mong các con vui vẻ, xua tan đi không khí u ám chiếm lĩnh không gian ngôi nhà bà.


Có thể thấy rằng, chi tiết bữa ăn ngày cưới ở phần cuối tác phẩm vừa tô đậm giá trị hiện thực nạn đói năm 1945. Để qua đấy, người đọc có thể hình dung ra được những thảm cảnh của người lao động. Nạn đói đe dọa đến sự sống và bao trùm mọi ngóc ngách, ngôi nhà của những người lao động nghèo, cướp đi sinh mạng của biết bao con người khốn khó. Đồng thời chi tiết này cũng có tác dụng tô đậm thêm giá trị nhân đạo của tác giả. Kim Lân thể hiện một nỗi cảm thương sâu sắc cho người nông dân lao động đồng thời cũng ca ngợi sức mạnh cũng như khí chất của con người lao động thời kỳ bấy giờ. Dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu, họ vẫn sống và đối xử với nhau bằng hơi ấm của tình người. Và bằng việc sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng tác giả đã gây ấn tượng mạnh vào tâm trí của người đọc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 2
(có 1 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 3

Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, tôi đặc biệt chú ý tới đoạn văn miêu tả bữa cơm ngày đói.


Chi tiết nằm ở phần cuối của truyện ngắn Vợ nhặt. “Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:

- Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy chốc mà có ngay đàn gà cho mà xem…


Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan ngoãn. Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế. Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại. Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có hai lưng bát đã hết nhẵn.

Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ:

- Chúng mày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ.


Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười:

- Chè đây. - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ.

Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:

- Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta còn khối nhà chả có cám mà ăn đấy…".


Đó là bữa cơm của gia đình Tràng với lần đầu tiên có sự hiện diện của người phụ nữ “vợ nhặt”. Hình ảnh bữa cơm là một tín hiệu nghệ thuật quan trọng, gợi mở nhiều điều về hiện thực. Trước hết, đó là sự thảm hại của cuộc sống người nông dân nơi xóm ngụ cư vào những ngày nạn đói hoành hành. Bình thường, cuộc sống của người dân xóm ngụ cư vốn đã đầy ắp những nỗi khó khăn. Giờ giữa nạn đói, mọi chuyện càng trở nên tồi tệ hơn.


Không phải ngẫu nhiên mà Kim Lân lại chú ý đặc tả hình ảnh bữa ăn nhà Tràng. Quan sát bữa ăn của gia đình họ, người đọc không thể không trỗi lên một niềm thương cảm. Bữa ăn chỉ có một ít cháo và rau chuối, không đủ cho ba miệng ăn. Bởi vậy, ngay sau đó bà cụ Tứ đã bổ sung thêm món “chè khoán”. Gọi là “chè khoán” chứ thực chất đó là món cháo cám, một thứ người ta vẫn thường dùng làm thức ăn cho gia súc. Vì không phải là thức ăn của con người nên chỉ mới đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, “hai con mắt thị tối lại”. Còn Tràng, “gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun lại ngay, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”.


Không khí bữa ăn chùng xuống, bởi “không ai nói câu gì”, “tránh nhìn mặt nhau” và đeo đuổi theo “nỗi tủi hờn” của riêng mình. Bữa ăn nhà Tràng quả là thê thảm nhưng dù sao vẫn còn khá hơn nhiều nhà khác. Câu nói của bà cụ Tứ đã mách bảo cho ta thực tế đó. "Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy". Một đoạn văn ngắn mà đã nói được một cách thấm thía nỗi cơ cực của con người. Qua đây, người đọc có thể nhận ra thái độ cảm thông và cách tố cáo hiện thực của nhà văn Kim Lân.


Khi được hỏi về quan điểm viết truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân nói rằng: “Khi tôi viết, ý tưởng thường trực trong tôi là những người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai”. Quan điểm đó đã chi phối sâu sắc tới quá trình triển khai, xử lý các tình huống nghệ thuật của nhà văn. Đoạn văn miêu tả bữa cơm ngày đói vẫn không ngoài tinh thần chung đó.


Như đã nói ở trên, hình ảnh bữa cơm gia đình Tràng là một biểu hiện sinh động của tình trạng thảm hại những ngày đói năm 1945. Cái đói đã đẩy con người về hàng súc vật. Nhưng con người vẫn là con người, vẫn tìm cách nương tựa vào nhau mà sống, vẫn khát khao, hi vọng. Bởi vậy, có một không khí khác trong đoạn văn miêu tả bữa cơm ngày đói của Kim Lân. Đó là không khí đầm ấm, đầy ắp tình người của gia đình Tràng. "Chưa bao giờ trong gia đình này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế". Nhân vật tạo nên không khí đầm ấm đó không ai khác hơn là bà cụ Tứ.


Trong bữa ăn "bà lão nói toàn chuyện vui", lúc nào cũng "tươi cười, đon đả". Có thể cái "tươi cười, đon đả" của cụ là để nhằm khỏa lấp tình trạng đen tối của hiện thực nhưng căn bản đó là nụ cười hạnh phúc của người mẹ nghèo trước cuộc sống mới của Tràng. Bà hiểu, mọi cuộc hôn nhân đều hàm chứa một khát vọng xây đắp cuộc sống của con người. Cho nên, câu chuyện trong bữa ăn với các con của bà là những "hoạch định" về tương lai. Đó là việc sử dụng chỗ đầu bếp làm cái chuồng gà. Bà hi vọng khi có tiền sẽ mua lấy đôi gà, "ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…". Chợt nhớ tới triết lý “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây” trong bài ca dao Mười cái trứng nổi tiếng của nền văn học dân gian Việt Nam. Bản chất con người Việt Nam là vậy, luôn biết tin tưởng và lạc quan.


Bữa cơm ngày đói do vậy, tuy có "thảm hại" xong vẫn đầm ấm tình người, vẫn ánh lên những tia hi vọng vào cuộc sống sẽ đổi thay. Ngòi bút của Kim Lân đã chạm vào được tầng sâu của hiện thực.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 3
(có 1 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 4

Thành công của truyện ngắn “Vợ nhặt” không chỉ bởi nội dung đặc sắc cùng tinh thần nhân văn cao cả mà còn được tạo nên bởi hàng loạt những chi tiết đặc sắc. Một trong số những chi tiết ấn tượng, ý nghĩa nhất của truyện ngắn Vợ nhặt là chi tiết về mâm cơm ngày đói với sự xuất hiện của món cháo cám.


Trong buổi sáng đầu tiên về nhà chồng, chị vợ nhặt đã cùng bà cụ Tứ quét dọn làm cho ngôi nhà lụp xụp của mẹ con Tràng trở nên sáng sủa như vừa được thổi thêm luồng sinh khí mới. Trong bữa cơm gia đình, tác giả Kim Lân đã đặc biệt chú trọng đến việc miêu tả mâm cơm ngày đói. Đó là một bữa cơm thật thảm hại, thiếu thốn với một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo, một niêu cháo lõng bõng mà mỗi người chỉ được lưng lưng hai bát, xuất hiện trên mâm cơm ngày đói còn là món ăn vốn không dành cho con người – cháo cám.


Điều đáng nói là món cháo cám xuất hiện như một món quà đặc biệt mà bà cụ Tứ chuẩn bị trong ngày đầu tiên con dâu về nhà, điều này được thể hiện trực tiếp qua sự hào hứng, vui vẻ cùng lời giới thiệu đầy hài hước “Chè khoán, chè khoán đây”. Khi không khí bữa ăn trầm lại vì miếng cháo đắng chát nghẹn ứ nơi cổ thì bà vẫn cố động viên các con “Cháo cám đấy. Ngon đáo để. Trong xóm mình khối nhà còn không có mà ăn”.


Nhà văn Kim Lân tập trung miêu tả mâm cơm ngày đói đã làm tăng giá trị hiện thực khi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra. Trong nạn đói, cháo cám món ăn vốn không dành cho con người cũng trở thành món ăn, món quà đặc biệt. Cuộc sống trở nên thảm hại vì ám ảnh đói khát nhưng con người trong bức tranh nạn đói ấy chưa bao giờ bi quan, tiêu cực mà luôn hướng đến cuộc sống tốt đẹp ở tương lai, thể hiện sức sống tinh thần đầy mạnh mẽ.


Qua chi tiết mâm cơm ngày đói, đặc biệt qua hình ảnh nồi cháo cám đã thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với khát khao sống chính đáng ở những người nông dân nghèo. Họ là những nạn nhân đáng thương bị nạn đói vắt kiệt sức sống nhưng họ vẫn luôn mang trong mình niềm tin mãnh liệt và sức sống tinh thần mạnh mẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 4
(có 0 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 5

“Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân. Truyện đã miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời tác giả còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của họ. Nổi bật trong truyện là chi tiết bữa cơm ngày đói sau khi Tràng đưa cô vợ nhặt về nhà.


Tràng - một người dân nghèo khổ sống cùng với mẹ già ở xóm ngụ cư. Một ngày nọ, trên đường kéo xe bò vào dốc tỉnh, Tràng tình cờ gặp gỡ với Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Khi về đến nhà, bà mẹ của Tràng ban đầu rất ngạc nhiên, sau đó là đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu với một sự thương cảm sâu sắc. Sáng hôm sau, Tràng bỗng cảm thấy mình đổi khác. Anh cảm thấy mình có trách nhiệm hơn. Bữa cơm đầu tiên của nàng dâu mới chỉ có vài món ăn đơn giản: “Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành”.


Đó là bữa cơm đầu tiên sau khi Tràng có vợ - một bữa cơm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước hết, hình ảnh bữa cơm là một tín hiệu nghệ thuật quan trọng, gợi mở về hiện thực xã hội lúc bấy giờ. Thông thường trong cuộc sống bình, sau khi lấy vợ thì cuộc sống trong gia đình sẽ có sự thay đổi, bữa ăn hàng ngày sẽ đầy đủ, chỉn chu hơn. Nhưng trong hoàn cảnh của Tràng thì bữa cơm đầu tiên của lại chỉ có vài món ăn đơn giản. Đó là sự thảm hại của cuộc sống người nông dân nơi xóm ngụ cư vào những ngày nạn đói hoành hành. Cuộc sống của họ vốn đã rất khó khăn, nhưng giữa nạn đói, mọi chuyện càng trở nên tồi tệ hơn. Chi tiết bữa ăn ngày đói càng làm nhấn mạnh cuộc sống khổ cực của họ. Nhưng đặc biệt là nhà văn lại miêu tả, họ ăn rất ngon lành, lại nói với nhau những điều rất vui vẻ. Từ đó cho thấy sự lạc quan, niềm tin vào một vào tương lai tốt đẹp của những người dân lao động nghèo.


Đặc biệt là hình ảnh nồi cháo cám mà bà cụ Tứ gọi đó là “chè khoán”. Kim Lân đã miêu tả thật khéo léo: “Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười:

- Chè đây. - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ.

Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:

- Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta còn khối nhà chả có cám mà ăn đấy…”.


Hình ảnh nồi cháo cám của bà cụ Tứ lại kéo họ trở về thực tế. Bà cụ Tứ gọi là “chè khoán” chứ thực chất đó là món cháo cám - đó là thứ đồ ăn dùng để chăn nuôi gia súc. Thái độ của thị khi đón lấy bát “cháo cám” được miêu tả: “hai con mắt thị tối lại”. Còn Tràng, “gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun lại ngay, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”. Không khí bữa ăn cũng vì thế mà lắng xuống. Cả gia đình “không ai nói câu gì”, “tránh nhìn mặt nhau” và đeo đuổi theo “nỗi tủi hờn” của riêng mình. Hình ảnh nồi cháo cám càng làm cho hoàn cảnh trở nên thê thảm hơn. Nhất là đối với người vợ nhặt, những tưởng sau khi theo Tràng về sẽ thoát khỏi cuộc sống nghèo đói, nhưng nào đâu gia cảnh của nhà Tràng cũng chẳng khá hơn.


Như vậy, chi tiết bữa ăn ngày đói thật giàu ý nghĩa. Bữa ăn ngày đói tuy có thảm hại nhưng vẫn thể hiện về niềm tin vào một tương lai tươi sáng

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 5
(có 0 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 6

“Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Quả thật điều đó đã được thể hiện qua truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. Đó là chi tiết bữa cơm ngày đói sau khi Tràng có được vợ. Đây là một chi tiết giàu ý nghĩa thể hiện được dụng ý nghệ thuật của nhà văn.


“Vợ nhặt” kể về Tràng một người dân nghèo khổ sống cùng với mẹ già ở xóm ngụ cư. Một ngày nọ, trên đường kéo xe bò vào dốc tỉnh, Tràng tình cờ gặp gỡ với Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Khi về đến nhà, bà mẹ của Tràng ban đầu rất ngạc nhiên, sau đó là đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu với một sự thương cảm sâu sắc. Sáng hôm sau, Tràng cảm thấy mình có sự thay đổi kì lạ. Sau đó là bữa ăn ngày đói của cả gia đình.


Trong cuộc sống, bữa ăn đầu tiên của một gia đình sau khi có nàng dâu mới rất quan trọng. Nhưng ở trong Vợ nhặt thì bữa ăn chỉ có “độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo”. Toàn là những món ăn hết sức đơn giản. Bữa cơm đã cho thấy sự nghèo đói của một gia đình ở tầng lớp dưới cùng của xã hội. Đồng thời việc miêu tả bữa ăn cũng cho thấy một hiện thực ở nông thôn Việt Nam những năm 1945. Nạn đói hoành hành, đẩy con người vào cuộc sống nghèo đói. Nhưng trong hoàn cảnh vậy, họ vẫn lạc quan, “cả nhà đều ăn rất ngon lành”, rồi họ nói với nhau về chuyện tương lai tốt đẹp.


Đặc biệt là hình ảnh nồi cháo cám mà bà cụ Tứ gọi là chè khoán. Món ăn thường dùng trong chăn nuôi gia súc. Vậy mà ở đây lại là thức ăn của con người. Cách gọi của bà cụ Tứ gợi ra tiếng cười xót xa cho cảnh ngộ của con người trong nạn đói. Tuy vậy, cách đón nhận của mỗi người lại khác nhau. Bà cụ Tứ vẫn tươi cười, đón đả: “- Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”. Người vợ nhặt thì đón lấy bát “cháo cám” được miêu tả: “hai con mắt thị tối lại”. Còn Tràng, “gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun lại ngay, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”. Nồi cháo cám đã kéo họ về với hiện thực cuộc sống đói nghèo. Kim Lân tiếp tục miêu tả: “Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người”. Chỉ với một đoạn văn ngắn nhưng đã gửi gắm nhiều ý nghĩa.


Qua chi tiết mà Kim Lân xây dựng, người đọc có thể cảm nhận sâu sắc về nạn đói năm 1945, cũng như thấu hiểu hơn về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong hoàn cảnh đó.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 6
(có 0 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 7

Tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân chính là một trong những tác phẩm kinh điển tái hiện chân thực, sinh động của nạn đói những năm 1945 khiến 2 triệu đồng bào nhân dân ta chết vì đói.


Thật vậy, sự đói kém của những vùng làng quê đã được thể hiện trực tiếp bằng những hình ảnh như: đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ, người chết như ngả rạ, ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường và mùi gây của xác người.


Bức tranh tổng quan về nạn đói những năm 1945 được khắc họa vô cùng chân thực và sinh động dưới ngòi bút của nhà văn Kim Lân. Tiếp theo, nạn đói tiếp tục được thể hiện qua tình huống nhân vật Tràng lấy được vợ. Sự nghèo khó đã đưa hai con người đến với nhau. Ở lần gặp thứ hai, vì quá đói mà nhân vật Thị đã đánh mất hết tự trọng để mà “đòi nợ” Tràng lời hứa mời ăn hôm trước. Và cũng vì sự nghèo khó ấy mà chỉ bằng một câu nói nửa đùa nửa thật của Tràng mà Thị trở về nhà Tràng và họ nên duyên vợ chồng với nhau.


Việc lấy vợ là một sự kiện thiêng liêng và trọng đại nhưng vì cái nghèo mà ta được chứng kiến một đám cưới không thể đơn giản hơn. Tràng cũng đã tưởng tượng đến sự đói nghèo không biết có sống nổi để mà nuôi nhau hay không nhưng Tràng vẫn nhắm mắt mặc kệ. Sự nghèo khổ của gia đình nhà Tràng còn được thể hiện bằng tâm tư, tâm trạng chua xót của người mẹ. Những giọt nước mắt của bà lão rơi xuống minh chứng cho tình yêu thương con, cùng với đó là sự chua xót cho tình cảnh nghèo khó của gia đình nhà mình. Hoàn cảnh nghèo khó khủng khiếp của gia đình Tràng cũng như bao gia đình khác được thể hiện bằng hình ảnh của nồi cháo cám.


Nồi cháo cám thể hiện cho sự nghèo khó đến tột cùng của gia đình những người nông dân lúc bấy giờ. Sự nghèo đói đã đưa đến kết thúc mở cho truyện đó là hình ảnh của lá cờ phấp phới, mở đường cho những người nông dân nghèo khó lúc bấy giờ phá kho thóc của Nhật để có thể sống sót khỏi nạn đói. Tóm lại, truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân đã thể hiện được tài tình và xuất sắc nạn đói những năm 1945 mà những người nông dân phải gánh chịu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 7
(có 0 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 8

Những nghịch lý, mâu thuẫn luôn là một phương diện của xã hội, nhất là khi xã hội ấy đang rối ren, bế tắc trong cảnh đói nghèo của năm 1945 hay đang bát nháo, giả dối trên con đường Âu hóa ở thành thị. Hãy nhìn vào cái đám cưới qua ngòi bút xây dựng tình huống truyện của Kim Lân trong truyện ngắn Vợ nhặt để cảm nhận được bữa cơm ngày đói.


Tràng là dân xóm ngụ cư nghèo khổ lại xấu xí. Trong cơn đói quay quắt và người chết như ngả rạ, Tràng lại “cưới” một cô vợ nghĩa là thêm một miệng ăn. Những cái không có hoặc không bình thường trong “đám cưới”: Đám cưới ở đây được hiểu hoàn toàn theo nghĩa bóng là hai người lấy nhau, về sống cùng nhau trong một mái nhà chứ không hề có một sự chuẩn bị, tổ chức hay bất cứ dấu hiệu nào của cái đám vui.


Không có dạm hỏi, làm quen hay mai mối, cũng không hề tìm hiểu nhau như những cái đám cưới bình thường. Lí do Thị theo Tràng về nhà chỉ bằng vài ba câu bông đùa và bốn bát bánh đúc. Để bám víu, tầm gửi thân phận trong cảnh đói khổ Thị đã không hề suy nghĩ lựa chọn cho quyết định của mình còn Tràng thì sự tình đến bất ngờ khiến Tràng chỉ “chậc, kệ” phó mặc cho cuộc đời.


Không có sính lễ của đàng trai cũng không có của hồi môn bên đàng gái. Món quà mà Tràng cho vợ ngày cưới là “cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt”. Đám cưới chẳng hề có một quan khách hay họ hàng nào đến chia vui bởi vì nghèo túng miếng cơm còn không có ăn thì lấy đâu đãi khách khứa “kể ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này”.


Đêm tân hôn diễn ra trong căn chòi rúm ró, phên nứa rách nát lại có tiếng khóc tỉ tê bên ngoài vọng vào. Thảm hại nhất là bữa ăn sáng hôm sau ngày gia đình chào đón nàng dâu mới. Đã không có mâm cao cổ đầy để ra mắt họ hàng lại chẳng được bữa cơm thịnh soạn cho ra hồn “giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo… Nồi cháo lõng bõng, mỗi người ăn có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn”. Bữa ăn bị gián đoạn và sự xuất hiện bất ngờ của nồi “chè khoán” - thật ra là món cháo cám chát đắng, thức ăn lẽ ra của động vật chứ không phải con người.


Đằng sau đám cưới không có gì Kim Lân xây dựng tình huống truyện và những chi tiết mang sức ám ảnh đến lay động lòng người. Sự tuềnh toàng và thảm hại trong cái đám cưới đã phản ánh được chân dung cảnh nghèo túng đến thảm thương của người dân trước năm 1945, họ phải giành giật, đấu tranh hằng ngày với cái đói, cái chết.


Ngược lại với cái đói, cái nghèo, con người trong Vợ Nhặt lại ấm áp, giàu tình yêu thương và khát khao sống. Bữa ăn không đủ no nhưng mọi người ăn với thái độ vui vẻ. Đến lúc nồi cháo cám xuất hiện dù miếng cám chát xít nghẹn ứ cổ nhưng cô con dâu vẫn chấp nhận vì cô thông cảm, thấu hiểu cho cảnh ngộ éo le của cơn đói. Bà cụ Tứ hiện lên trong bữa ăn như một ngọn lửa cố gắng đem ánh sáng của mình thắp niềm tin cho hai con. Bà kể toàn những chuyện vui, ở cái tuổi xế chiều bà vẫn lạc quan, tin tưởng vào chân lí của ông bà “không ai nghèo ba họ, không ai khó ba đời”. Bà truyền cho các con mình chút an ủi, chút hi vọng cho cuộc sống quá tối tăm. Chi tiết nồi chè khoán “ngon đáo để” là chi tiết xúc động về tình mẫu tử về tấm lòng nhân hậu của người mẹ nghèo.


Trong tất cả những thứ không có thì Kim Lân đã khẳng định điều thiêng liêng tồn tại trong truyện, đó chính là tình người. Tình người giúp Thị tìm được nơi nương tựa, giúp Tràng và bà cụ Tứ thêm hi vọng sống, giúp xóm ngụ cư vui tươi hơn mọi khi và cũng giúp trang văn ấm áp lạ thường.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 8
(có 0 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 9

Kim Lân là một trong những nhà văn hướng ngòi bút của mình về với cội nguồn cuộc sống nông thôn thuần hậu nguyên thủy. Đến với “Vợ nhặt”, ta bắt gặp tình cảm nhân đạo xót xa trên từng trang viết của văn nhân. Đó là khung cảnh của nạn đói bao trùm, là tình huống nhặt vợ éo le, thương cảm. Đó còn là hình ảnh nồi cháo cám hiện hữu ngay giữa tác phẩm – nơi những con người khốn khổ ấy vẫn mong mỏi một cái gì tươi sáng “lóe” lên ngay trong cuộc sống tăm tối của họ. “Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại… Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc.” Đoạn trích vừa là áng văn xúc cảm về tình người đầm ấm, vừa là điểm sáng trong cách khai thác chiều sâu hiện thực và giá trị nhân đạo của nhà văn Kim Lân.


“Vợ nhặt” là tác phẩm xuất sắc của nhà văn Kim Lân, trích trong tập “Xóm ngụ cư”. Bối cảnh toàn bộ thi phẩm diễn tả hiện thực đời sống người nông dân Việt Nam những năm 1945. Tuy nhiên, chỉ đến khi hòa bình lập lại, năm 1954, “Vợ nhặt” mới chính thức được ra mắt bạn đọc, trở thành “đứa con đẻ” tinh thần của Kim Lân. Khi đọc “Vợ nhặt”, người đọc sẽ chẳng thể nào quên không khí vương vẩn của cái đói, cái nghèo trong bữa ăn đầu tiên đón nàng dâu mới. Đoạn trích thuộc phần giữa tác phẩm cũng như là một trong những đoạn văn viết về người nông dân thành công nhất của Kim Lân.


M.Gorki đã từng nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Nếu chi tiết chiếc lá cuối cùng trong tác phẩm của O.Henri được coi là yếu tố “kiến tạo” nên tương hiệu của nhà văn, nếu Nam Cao để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc với chi tiết bát cháo hành thì nhà văn Kim Lân lại khéo léo xây dựng, thể hiện chân thực chi tiết nồi cháo cám – hình ảnh “gieo” vào lòng người đọc biết bao thương nhớ, ám ảnh tột cùng của cái nghèo, cái đói bủa vây. Lời văn của Kim Lân dẫn ta vào bữa ăn đón nằng dâu mới với bao chân thực: “Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo”. Hai chữ “thảm hại” như đã nói lên tất cả: sự nghèo đói, thiếu thốn, sự cơ cực và bần cùng hóa! Trong bữa cơm ấy, ấn tượng day dứt trong tôi về hình ảnh “cái mẹt rách” hiện lên thật đau đớn, xót xa. Ấy là hình ảnh nồi cháo cám được đặt ở giữa cái mẹt rách, ăn kèm là món rau chuối thái rối cùng một đĩa muối. Niêu cháo “lõng bõng”, khi ấy mỗi người “được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn”. Miêu tả chân thực cảnh bữa cơm ngày đói, dường như Kim Lân đã thổi vào trong trang văn luồng gió nặng trĩu xúc cảm xót thowng thật mạnh mẽ.


Theo truyền thống văn hóa của người Việt Nam, bữa cơm đầu tiên gia đình đón nàng dâu mới thường có sự xuất hiện của những món ăn dân tộc truyền thống, thêm vào đó là sự chuẩn bị chu đáo, kĩ lưỡng. Thế nhưng, điều mà nhà văn muốn nói ở đây không phải mâm cao cỗ đầy hay giá trị vật chất thịnh soạn, nhân văn muốn nhấn mạnh vẻ đẹp quý giá của tình người dẫu trong cơ cực, thiếu thốn. Niêu cháo tuy ít ỏi và không đủ no nhưng đó là thức quà, là bữa cơm duy trì sự sống cho mỗi thành viên trong gia đình. Và vào miệng những miếng cháo “lõng bõng” ấy, điều còn lại chính là giá trị của tình thương, của hạnh phúc gia đình đầm ấm. Để không khí gia đình thêm phần vui vẻ, bà cụ Tứ đã đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười: “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Bát chè khoán tuy bình dị, dân giã và thiếu thốn với những miếng cháo nghẹn ứ cả cổ họng, thế nhưng mọi thành viên trong gia đình vẫn đón nhận món ăn ấy bằng sự vui vẻ, phấn khởi. Khi miêu tả hình ảnh bát chè khoán, Kim Lân còn khai thác bên cạnh đó chi tiết “đám mây đen” và “đàn quạ bay vù lên”. Điều đó thể hiện một hiện thực còn khốn cùng hơn cả hiện thực. Ánh đen của bóng tối, của màn đêm đang chìm vào không khí nơi đây, màu đen của cái đói, màu đen của sự ngột ngạt chìm trong chết chóc. Như vậy, Kim Lân đã thành công khi miêu tả cảnh bữa cơm ngày đói đón nàng dâu mới, đoạn văn còn bao trùm cả hiện thực nghèo đói, xác xơ trên từng nét chữ.


Người nghệ sĩ chân chính trên hành trình tìm kiếm cái đẹp không tách rời với hiện thực phong phú. Văn phong của Kim Lân ánh lên trong đó cái đẹp của tình người, tình đời sâu sắc. Trước một hiện thực khốn cùng – “cái đói đã tràn đến xóm này từ lúc nào”, những con người trong câu chuyện của nhà văn dường như thấu hiểu được điều đó, họ không tủi phận mà họ thương cho chính phận đời rẻ rúng của mình. Trong bữa cơm, bà cụ Tứ luôn nhắc đến chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn những chuyện vui, “toàn chuyện sung sướng về sau này”. Với tư cách là một bà mẹ đã gần đất xa trời, bà lão mong muốn lan tỏa niềm vui, năng lượng tích cực đến các con, mong một tương lai tươi sáng sau này. “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin rằng chỗ bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá”. Sâu thẳm trong lời nói của bà, người đọc dường như thấm thía bao suy tư, nỗi lòng của người mẹ: thương và lo lắng cho các con. Cả cuộc đời mẹ tần tảo, hi sinh vì những đứa con yêu dấu, tâm nguyện lớn nhất của người làm cha, làm mẹ suy cho cùng là mong các con khôn lớn, trưởng thành, biết lo nghĩ cho cuộc sống sau này.


Câu chuyện đàn gà cũng chính là sự kì vọng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của bà cụ. Không chỉ vậy, người mẹ ấy còn dành tình cảm mến yêu, thương xót cho Tràng và con dâu. Bà lão mang ra giữa nhà bát chè khoán dành cho các con. Chi tiết nhỏ bé ấy lại là sự thể hiện lớn lao của bà cụ. “Người mẹ vẫn tươi cười, đon đả”, lấy từng bát chè khoán đưa cho Tràng và thị. Thế nhưng, đằng sau nụ cười hồn hậu ấy là gì? Phải chăng phía sau vẻ bề ngoài luôn tỏ ra mạnh mẽ, vui vẻ của bà cụ Tứ lại là một nỗi lòng thầm kín? Bà lão đã khóc khi Thị hỏi về tiếng trống thúc thuế. “Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc”. Bởi tiếng trống thúc thuế ấy ẩn chứa biết bao nỗi đau trong tâm can bà cụ. “Đằng thì nó bắt trồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ”. Như vậy, nhân vật bà cụ Tứ vừa là hiện thân của hình ảnh người mẹ tần tảo, hi sinh vì con, vừa là con người nhạy bén, sâu sắc, giàu lòng yêu thương và chan chứa nỗi đau đất nước bị xâm lược.


Nếu bà cụ Tứ hiện lên với dáng vẻ của người mẹ hiền thì nhân vật thị lại bước vào trang văn của Kim Lân với tư cách một người con dâu hiếu thảo, nết na. Chứng kiến bữa cơm ngày đói thiếu thốn, thị không tỏ thái độ không bằng lòng, thay vào đó, ở nhân vật này, ta thấy sự cam chịu, chấp nhận cảnh sống nghèo khó. Bởi lẽ, thị đã theo Tràng về làm dâu để giải thoát cái đói cho chính mình, tức là người đàn bà ấy đã học cách chấp nhận hiện thực. Chi tiết “Hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng” để lại trong lòng ta nhiều day dứt. Sự éo le của cuộc sống đã khiến người đàn bà tối lại trong hai con mắt. Thế nhưng, từ “điềm nhiên” đã cho thấy thái độ bình thản và sự lạc quan trong thị. Có lẽ nàng dâu mới là một người rất hiểu chuyện, chi tiết thị hỏi bà cụ Tứ về tiếng trống thúc thuế càng gợi mở nét đẹp hồn nhiên, muốn được tìm ra lời giải đáp thích đáng trong thị. Có thể thấy, từ một người đàn bà chao chát, chỏng lỏn, thị đã trở về đúng bản tính của người phụ nữ hồn hậu, biết điều. Ở người đàn bà ấy, ta thấy được niềm khát khao được sống mãnh liệt và tin tưởng vào tương lai tươi sáng.


Trong khi đó, nhân vật Tràng được đặt trong bữa cơm ngày đói với ít hành động, diễn biến được nhà văn tập trung miêu tả. “Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan ngoãn”. Câu văn duy nhất mà Kim Lân dành để miêu tả Tràng trong đoạn văn diễn tả bữa cơm ngày đói. Phải chăng điểm nhìn của tác giả đang hướng về người con dâu và mẹ chồng? Vốn là người con trai duy nhất duy nhất còn sống cùng với bà cụ Tứ, Tràng thương và hiểu cho mẹ. Ở nhân vật này, ta thấy có sự chuyển dòng rõ rệt: từ anh con khù khờ, nông nổi, giờ đây Tràng chính thức trở thành trụ cột của gia đình. Trước nền hiện thực tăm tối ấy, Tràng không gục ngã trước cuộc sống, người đọc thấy được khát vọng và niềm tin vào tương lai bất diệt của nhân vật.


Nghệ thuật là câu trả lời độc đáo của cái đep, chỉ riêng mình nó không thừa nhận cái chết. Trang văn viết về hiện thực éo le của Kim Lân vẫn sống mãi trong lòng người đọc trước hết bởi tài năng xây dựng tình huống truyện bất ngờ, lối viết đi sâu vào miêu tả tâm lý, nội tâm nhân vật sâu sắc. Đặc biệt, chi tiết nồi cháo cám là một sáng tạo đầy tài tình của Kim Lân. Bên cạnh đó, ta còn xúc động, ám ảnh trước phong cách viết truyện, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi với đời sống nông thôn. Bởi vậy mà có nghệ sĩ đã từng nói: “Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với trời, với đất, với thuần hậu nguyên thủy nông thôn”.


“Vợ nhặt” là tác phẩm mà Kim Lân đã dụng công sáng tạo giá trị hiện thực và nhân đạo thấm đẫm trong trang văn bình dị ấy. Grandi từng cho rằng: “Không có nghệ thuật nào là không hiện thực”. Ngòi bút xúc cảm của nhà văn vẫn tuôn trào những “giọt máu” của cuộc sống hiện thực éo le, bi kịch. Kim Lân đã trực tiếp thể hiện sự cùng cực của cái đói, cái nghèo đeo bám con người tới hơi thở cuối cùng. Đó là bức tranh hiện thực của nạn đói khủng khiếp đã cướp đi sinh mệnh hơn hai triệu đồng bào ta. Đó là chi tiết nồi cháo cám ám ảnh, xúc động mà chân thực đến da diết. Điểm mới trong giá trị hiện thực được thể hiện ở cách khai thác đề tài, nhà văn hướng con người đến tương lai tươi sáng, từ hiện thực đói khổ ấy mà con người tự giải thoát mình. Sê-khốp khi nói về văn học nghệ thuật từng cho rằng: “Nhà văn chân chính là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”. Giá trị nhân đạo thấm đẫm nơi trang viết của Kim Lân không chỉ thể hiện ở cái nhìn thương cảm, xót xa đối với mảnh đời bất hạnh, lên án sự tàn bạo, dã man của bọn thực dân mà qua đó, Kim Lân còn thể hiện tiếng nói của sự ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của họ. Nhà văn đề cao giá trị của tình thương và khát vọng sống, mở ra cuộc sống tươi đẹp cho nhân vật của mình.


Đọc “Vợ nhặt”, ta thêm yêu, thêm trân trọng cuộc sống hiện tại. Hơi thở hiện thực trong ngòi bút của Kim Lân đã hướng con người đến với lẽ sống tình thương, tình người đầm ám. Bởi “Văn học là nhân học” (M.Gorki).

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Top 9
(có 0 lượt vote)

Bài văn cảm nhận về chi tiết bữa ăn ngày đói trong "Vợ nhặt" - mẫu 10

“Vợ Nhặt” một trong những tác phẩm thành công của nhà văn Kim Lân. Những trang văn của ông thấm đượm được tính hiện thực những năm nạn đói 1945. Đặc biệt việc xây dựng chi tiết rất thành công của Kim lân giúp tác phẩm càng trở nên thu hút và gây ấn tượng với người đọc. Trong đó, bữa ăn đầu tiên đón nàng dâu mới ở phần cuối tác phẩm gây nên nhiều suy nghĩ trong lòng độc giả.


Mặc dù chi tiết bữa cơm đón nàng dâu ngày đói ở cuối tác phẩm là một chi tiết nhỏ nhưng lại có sức ám ảnh và lay động người đọc. Thông thường, bữa cơm đón nàng dâu mới là một bữa ăn có vai trò quan trọng thể hiện sự gắn kết, đầm ấm giữa gia đình nhà chồng với thành viên mới trong gia đình. Thế nhưng, trong truyện ngắn “Vợ nhặt” bữa ăn này lại hết sức đơn giản nếu không muốn nói là tuềnh toàng và thảm hại. “Giữa cái mẹt rách… muối ăn với cháo”. Ở đây, Kim Lân đã thể hiện tài năng ngôn ngữ của mình với đầy sức gợi hình và gợi tả. Bữa ăn chỉ được chuẩn bị qua loa, sơ sài. Nó nói lên sự nghèo đói của một gia đình ở tầng lớp dưới cùng của xã hội. Đồng thời, chính bữa cơm này cũng tái hiện lại chân thực cái đói cái nghèo những năm 1945. Họ đang cố gắng giành giật lại từng chút sự sống từ bàn tay của tử thần. Và điều cần nhất lúc này không đòi hỏi đến ăn ngon, đủ ăn mà chỉ cần có ăn để được sống. Do đó, xét trong tình cảnh hiện thực năm 1945 mặc dù bữa cơm có đơn sơ, tuềnh toàng và sơ sài bao nhiêu thì bữa cơm do bà cụ Tứ là một sự cố gắng trong hoàn cảnh giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Đặc biệt, liêu cháo loãng nhanh chóng hết nên mẹ con cụ Tứ phải ăn cám. Đồ ăn vốn dĩ dành cho động vật, không phải cho con người.


Điều đáng nói là món cháo cám xuất hiện như một món quà đặc biệt mà bà cụ Tứ chuẩn bị trong ngày đầu tiên con dâu về nhà, điều này được thể hiện trực tiếp qua sự hào hứng, vui vẻ cùng lời giới thiệu đầy hài hước “Chè khoán, chè khoán đây”. Khi không khí bữa ăn trầm lại vì miếng cháo đắng chát nghẹn ứ nơi cổ thì bà vẫn cố động viên các con “Cháo cám đấy. Ngon đáo để. Trong xóm mình khối nhà còn không có mà ăn”.


Nhà văn Kim Lân tập trung miêu tả mâm cơm ngày đói đã làm tăng giá trị hiện thực khi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra. Trong nạn đói, cháo cám món ăn vốn không dành cho con người cũng trở thành món ăn, món quà đặc biệt. Cuộc sống trở nên thảm hại vì ám ảnh đói khát nhưng con người trong bức tranh nạn đói ấy chưa bao giờ bi quan, tiêu cực mà luôn hướng đến cuộc sống tốt đẹp ở tương lai, thể hiện sức sống tinh thần đầy mạnh mẽ.


Khi được hỏi về quan điểm viết truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân nói rằng: “Khi tôi viết, ý tưởng thường trực trong tôi là những người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai”. Quan điểm đó đã chi phối sâu sắc tới quá trình triển khai, xử lý các tình huống nghệ thuật của nhà văn. Đoạn văn miêu tả bữa cơm ngày đói vẫn không ngoài tinh thần chung đó.


Như đã nói ở trên, hình ảnh bữa cơm gia đình Tràng là một biểu hiện sinh động của tình trạng thảm hại những ngày đói năm 1945. Cái đói đã đẩy con người về hàng súc vật. Nhưng con người vẫn là con người, vẫn tìm cách nương tựa vào nhau mà sống, vẫn khát khao, hi vọng. Bởi vậy, có một không khí khác trong đoạn văn miêu tả bữa cơm ngày đói của Kim Lân. Đó là không khí đầm ấm, đầy ắp tình người của gia đình Tràng. "Chưa bao giờ trong gia đình này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế". Nhân vật tạo nên không khí đầm ấm đó không ai khác hơn là bà cụ Tứ. Trong bữa ăn "bà lão nói toàn chuyện vui", lúc nào cũng "tươi cười, đon đả". Có thể cái "tươi cười, đon đả" của cụ là để nhằm khỏa lấp tình trạng đen tối của hiện thực nhưng căn bản đó là nụ cười hạnh phúc của người mẹ nghèo trước cuộc sống mới của Tràng. Bà hiểu, mọi cuộc hôn nhân đều hàm chứa một khát vọng xây đắp cuộc sống của con người. Cho nên, câu chuyện trong bữa ăn với các con của bà là những "hoạch định" về tương lai. Đó là việc sử dụng chỗ đầu bếp làm cái chuồng gà. Bà hi vọng khi có tiền sẽ mua lấy đôi gà, "ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…".


Qua chi tiết mâm cơm ngày đói, đặc biệt qua hình ảnh nồi cháo cám đã thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với khát khao sống chính đáng ở những người nông dân nghèo. Họ là những nạn nhân đáng thương bị nạn đói vắt kiệt sức sống nhưng họ vẫn luôn mang trong mình niềm tin mãnh liệt và sức sống tinh thần mạnh mẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet) ảnh 1
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Hi vọng bài viết trên mang lại nhiều giá trị cho bạn. Chúc các bạn học tốt và tiếp tục theo dõi các bài văn hay trên Alltop.vn

Hãy đăng nhập để bình luận

Đăng nhập bằng facebook hoặc google để bình luận .