Top 6 Bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) hay nhất
Mời các bạn tham khảo một số bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) hay nhất mà Alltop tổng hợp trong bài...xem thêm ...
Bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) - mẫu 1
* Nội dung chính “Hồn thiêng đưa đường”:
- Đổng Kim Lân củng cố lực lượng và tiếp tục chiến đấu chống Tạ Thiên Lăng. Cánh thái sư cố thủ trong thành, Tạ Thiên Lăng bắt mẹ của Đổng Kim Lân làm con tin, nếu Kim Lân phá thành chúng sẽ giết mẹ ông.
* Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:
Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa đoạn trích tuồng Sơn Hậu (tuồng cung đình) với đoạn trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến (tuồng dân gian) đã học trước đó.
- Trong đoạn trích cũng như trong toàn vở kịch, tác giả sử dụng rất nhiều lối nói đối với tần số xuất hiện khá dày của từ ngữ Hán Việt. Điều đó tạo nên không khí trang trọng của vở kịch. Mượn chuyện nước người để nói nước mình là thủ pháp quen thuộc của văn học trung đại. Bởi các tác phẩm tuồng cung đình thường được biểu diễn tại những nơi trang trọng để giáo dục lòng trung nghĩa. Nhưng ngôn ngữ Việt vẫn là chủ yếu chứ không phải từ Hán Việt. Nói chung tiếng Việt trong Sơn Hậu nôm na, mộc mạc, gần với khẩu ngữ hơn là gần với ngôn ngữ bác học như trong các truyện Nôm hay thể ngâm khúc của thời này.
- Ngôn ngữ trong Ngao sò ốc hến là ngôn ngữ dân gian, từ địa phương, từ khẩu ngữ thông tục sử dụng hàng ngày.
Chất bi hùng của sự kiện và nghĩa vua tôi, tình huynh đệ được thể hiện trong đoạn trích – một trong những điều tạo nên sức hấp dẫn mê hoặc của tuồng đối với khán giả thời trước.
- Tuồng cổ mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, vì vậy, chất bi hùng được coi là một đặc trưng thẩm mỹ đặc trưng của loại hình nghệ thuật truyền thống này.

Bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) - mẫu 2
* Nội dung chính: Hồn thiêng đưa đường
Là vở tuồng tái hiện lịch sử giai đoạn khi triều đình nhà Nguyễn bắt đầu suy vong, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta. Qua vở tuồng, chúng ta có thể thấy rõ được những luân lý, đạo đức phong kiến như Tam cương (quân, sư, phụ) và Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tin) đã được đề cao. Đặc biệt là tình bạn đẹp đẽ và cao quý của Kim Lân và Linh Tá. Vở tuồng vẫn nằm trong khuôn khổ rằng kẻ làm ác cuối cùng sẽ phải đền tội (gieo gió, gặt bão), người hiền lành được hưởng phúc (ở hiền gặp lành), dù có chết đi cũng trở thành Tiên, Thánh, ân đền, oán trả, sau những giai đoạn điêu linh khổ sở lại được vui hưởng an bình (hết cơn bĩ cực đến thời thái lai).
* Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:
Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa đoạn trích tuồng Sơn Hậu (tuồng cung đình) với đoạn trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến (tuồng dân gian) đã học trước đó.
- Ngôn ngữ tuồng cung đình rất công phu, điêu luyện và tuân theo những quy tắc chặt chẽ. Lời lẽ trong tuồng cung đình nghiêm chỉnh, trang trọng, tránh tất cả những điều tục tĩu, phạm húy.
- Ngôn ngữ tuồng dân gian giản dị, dễ hiểu và gần gũi.
Chất bi hùng của sự kiện và nghĩa vua tôi, tình huynh đệ được thể hiện trong đoạn trích – một trong những điều tạo nên sức hấp dẫn mê hoặc của tuồng đối với khán giả thời trước.
- Tuồng cổ mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, vì vậy, chất bi hùng được coi là một đặc trưng thẩm mỹ đặc trưng của loại hình nghệ thuật truyền thống này.

Bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) - mẫu 3
- Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa đoạn trích tuồng Sơn Hậu (tuồng cung đình) với đoạn trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến (tuồng dân gian đã học trước đó).
Sử dụng khá nhiều từ ngữ Hán Việt. Tuy nhiên từ thuần Việt vẫn là chủ yếu chứ không phải từ Hán Việt. Tiếng Việt trong tuồng Sơn Hậu nôm na, mộc mạc, gần với khẩu ngữ hơn là gần với ngôn ngữ bác học như trong các truyện Nôm hay thể ngâm khúc của thời này.
- Chất bi hùng của sự kiện và nghĩa vua tôi, tình huynh đệ được thể hiện trong đoạn trích - một trong những điều tạo ra sức hấp dẫn mê hoặc của tuồng đối với khán giả thời trước.
- Tóm tắt tích truyện: Vua Tề băng hà, lũ gian thần đứng đầu là Thái sư Tạ Thiên Lăng âm mưu cướp ngôi, tống giam Phán thứ phi ngay lúc nàng đang mang thai. Những người trung thành với vua như Nguyệt Hạo, Từ Trinh, Đồng Kim Lân, Khương Linh Tá… quyết cứu Phán thứ phi cùng hoàng tử mới sinh và đưa họ đi trốn. Linh Tá tự nguyện đi sau để cản đường quân phản nghịch do Tạ Ôn Đình chỉ huy. Trong cuộc giao tranh, Linh Tá bị chém rơi đầu, nhưng hồn Linh Tá đã hóa thành ngọn đuốc để đưa đường cho Kim Lân hộ tống hoàng tử và thứ phi về tới thành Hậu Sơn an toàn, chuẩn bị cho cuộc phục thù đánh đuổi gian thần, đưa hoàng tử nhỏ lên ngôi.
- Chất bi hùng của sự kiện: Nhà vua băng hà, gian thần làm phản. Những người trung thành quyết tâm bảo vệ hoàng tử.
- Nghĩa vua tôi: Những người trung thành với vua như Nguyệt Hạo, Từ Trinh, Đồng Kim Lân, Khương Linh Tá… quyết cứu Phán thứ phi cùng hoàng tử mới sinh và đưa họ đi trốn.
Tình huynh đệ: Trong cuộc giao tranh, Linh Tá bị chém rơi đầu, nhưng hồn Linh Tá đã hóa thành ngọn đuốc để đưa đường cho Kim Lân hộ tống hoàng tử và thứ phi về tới thành Hậu Sơn an toàn.

Bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) - mẫu 4
Bài tập 5. Đọc lại văn bản Hồn thiêng đưa đường trong SGK Ngữ văn 10, tập một (tr. 152 – 155) và trả lời các câu hỏi:
- Tóm tắt tình huống được tái hiện trong cảnh tuồng Hồn thiêng đưa đường và nêu ấn tượng chung về tình huống đó.
- Tìm trong văn bản (phần lời thoại) những câu cho biết về không gian, thời gian, tình thế diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Kim Lân và hồn Linh Tả.
- Nghĩa vua tôi và tình huynh đệ đã được thể hiện như thế nào qua đoạn trích? Theo bạn, những tình nghĩa được thể hiện đó có thể đưa lại bài học tích cực gì cho cuộc sống của con người hôm nay?
- Nhận xét sự khác biệt về ngôn ngữ giữa đoạn trích Hồn thiêng đưa đường và đoạn trích Huyện đường. Theo bạn, những nguyên nhân nào đã đưa đến sự khác biệt đó?
- Nêu suy nghĩ về những khó khăn mà người đọc, người xem ngày nay có thể gặp phải khi tiếp cận với nghệ thuật tuồng truyền thống.
Bài giải:
1. Tóm tắt tình huống: Trên đường vượt khỏi vòng vây của kẻ gian, Kim Lân đưa hoàng tử con vua Tề chạy trốn. Vào thời điểm túng quẫn, Kim Lân gặp hồn Linh Tá cứu giúp nhờ đó mà thoát mạng, đến được thành Sơn Hậu.
Ấn tượng chung về tình huống: Đây là tình huống gay gấn, tạo sự hồi hộp cho người đọc không biết chặng đường chạy của Kim Lân đưa hoàng tử con vua Tề trốn có thuận lợi hay không?
2. Lời thoại cho bạn đọc biết về không gian, thời gian, tình thế:
- Phá muôn vòng quân sĩ
Thẳng trăm trận pháo tên,
Kiếm Thứ phi kiếm chẳng thấy tin,
Tìm mẫu hậu tìm không ra tích
Thương tử hoàng còn nhỏ
Khát sữa lại đói cơm.
Cắn máu tay thấm giọt nhi long
Nhất thời trợ miễn ư cơ khát
(Này)
Sau lưng không tiếng nhạc
Trước mắt thấy đâu non
Lạc vào chốn sơn trung
Đã không đời nước bước (rồi đây!)
- Nay ta giúp vận Tề quân
Sao lại tuyệt kì đăng hoả
- Đoán bên non thấy ngọn hoả hào
Giục tuấn mã vội vàng theo dõi.
Như vậy, chỉ qua lời thoại, người đọc, người xem có thể hình dung được rất rõ toàn bộ bối cảnh diễn ra sự việc. Điều này càng cho thấy nét đặc trưng của lời thoại trên sân khấu. Ở trong văn bản truyện, thường bối cảnh (không gian, thời gian, tình huống) được người đọc nhận biết nhờ lời của người kể chuyện.
3. Qua đoạn trích, nghĩa vua tôi và tình huynh đệ được thể hiện:
- Trong hoạn loạn, Kim Lân không ngại nguy hiểm mà cứu triều Tề.
- Trong đói khát, Kim Lân sẵn sàng lấy máu của mình cho hoàng tử.
- Khi người bạn bỏ mình vì nghĩa, Kim Lân xót xa.
Bài học tích cực: Văn bản nêu cao tính quân tử của người anh hùng. Đó là phẩm chất trung thành. Cách ứng xử này tuy không còn phù hợp với thời đại hiện nay khi đất nước ta là đất nước của dân do dân vì dân thế nhưng trung thành là phẩm chất thiết nghĩ cần có ở mỗi người, bởi đó thể hiện được sự nhiệt thành của con người dành cho đối phương.
4. Ngôn ngữ giữa đoạn trích Hồn thiêng đưa đường và đoạn trích Huyện đường có sự khác biệt lớn:
- Đối với đoạn trích “Huyện đường”, ngôn ngữ ở đây mang tính đời thường, gần gũi.
- Đối với đoạn trích “Hồn thiêng đưa đường”, ngôn ngữ ở đây lại mang nhiều từ Hán Việt, khiến người đọc gặp khó khăn trong trường hợp không hiểu nghĩa.
Nguyên nhân: Xuất phát từ bản chất, mục đích của hai loại tuồng này khác nhau nên ngôn ngữ trong vở tuồng có sự khác biệt nhất định.
5. Người đọc, người xem ngày nay có thể gặp phải nhiều khó khăn khi tiếp cận với nghệ thuật tuồng truyền thống:
- Vì nội dung vở diễn mang nhiều nội dung cổ xưa dẫn đến việc khó tiếp nhận đối với thế hệ ngày nay bởi khoảng cách quá lớn.
- Ngôn ngữ có thể gây khó hiểu cho người xem bởi nhiều từ Hán Việt, mang tính ước lệ.
- Phải có hiểu biết nhất định về tuồng mới có thể hiểu được nội dung mà vở tuồng truyền tải.
Như vậy, để hiểu tuồng, yêu tuồng, cần phải trang bị rất nhiều hiểu biết về lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ và đặc biệt phải có một thái độ trân trọng thực sự đối với những di sản tinh thần quý báu mà ông cha đã để lại.

Bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) - mẫu 5
Câu 1
Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa đoạn trích tuồng Sơn Hậu (tuồng cung đình) với đoạn trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến (tuồng dân gian) đã học trước đó.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và so sánh ngôn ngữ giữa hai thể loại tuồng
Lời giải chi tiết:
-Tác giả sử dụng rất nhiều lối nói đối với tần số xuất hiện khá dày của từ ngữ Hán Việt. Điều đó tạo nên không khí trang trọng của vở kịch.
-Mượn chuyện nước người để nói nước mình là thủ pháp quen thuộc của văn học trung đại. Bởi các tác phẩm tuồng cung đình thường được biểu diễn tại những nơi trang trọng để giáo dục lòng trung nghĩa.
-Tiếng Việt trong Sơn Hậu nôm na, mộc mạc, gần với khẩu ngữ hơn là gần với ngôn ngữ bác học như trong các truyện Nôm hay thể ngâm khúc của thời này.
- Ngôn ngữ trong Ngao Sò Ốc Hến là ngôn ngữ dân gian, từ địa phương, từ khẩu ngữ thông thường, sử dụng hàng ngày.
Câu 2
Chất bi hùng của sự kiện và nghĩa vua tôi, tình huynh đệ được thể hiện trong đoạn trích – một trong những điều tạo nên sức hấp dẫn mê hoặc của tuồng đối với khán giả thời trước.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những tình tiết đặc sắc thể hiện chất bi hùng và tình nghĩa
Lời giải chi tiết:
- Chất bi hùng của sự kiện: Nhà vua băng hà, gian thần làm phản. Những người trung thành quyết tâm bảo vệ hoàng tử.
- Nghĩa vua tôi: Những người trung thành với vua như Nguyệt Hạo, Từ Trinh, Đồng Kim Lân, Khương Linh Tá… quyết cứu Phán thứ phi cùng hoàng tử mới sinh và đưa họ đi trốn.
- Tình huynh đệ: Trong cuộc giao tranh, Linh Tá bị chém rơi đầu, nhưng hồn Linh Tá đã hóa thành ngọn đuốc để đưa đường cho Kim Lân hộ tống hoàng tử và thứ phi về tới thành Hậu Sơn an toàn.

Bài soạn "Thực hành đọc: Hồn thiêng đưa đường trang 152" (Ngữ văn 10 - SGK Kết nối tri thức) - mẫu 6
I. Tìm hiểu tác phẩm Hồn thiêng đưa đường
- Thể loại: Tuồng
- Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Đoạn trích “Hồn thiêng đưa đường” được trích từ vở kịch Sơn Hậu.
- Sơn Hậu là vở tuồng cổ mẫu mực, ra đời từ khoảng giữa TK XVIII, chưa rõ tác giả, được nhiều nhà soạn tuồng nổi tiếng như Đào Tấn, Nguyễn Hiền Dĩnh tham gia chỉnh lí.
- Tóm tắt tích truyện: Vua Tề băng hà, lũ gian thần đứng đầu là Thái sư Tạ Thiên Lăng âm mưu cướp ngôi, tống giam Phán thứ phi ngay lúc nàng đang mang thai. Những người trung thành với vua như Nguyệt Hạo, Từ Trinh, Đồng Kim Lân, Khương Linh Tá,… quyết cứu Phán thứ phi cùng hoàng tử mới sinh và đưa họ đi trốn. Linh Tá tự nguyện đi sau để cản đường quân phản nghịch do Tạ Ôn Đình chỉ huy. Trong cuộc giao tranh, Linh Tá bị chém rơi đầu, nhưng hồn Linh Tá đã hóa thành ngọn đuốc để đưa đường cho Kim Lân hộ tống hoàng tử và thứ phi về tới thành Hậu Sơn an toàn, chuẩn bị cho cuộc phục thù đánh đuổi gian thần, đưa hoàng tử nhỏ lên ngôi.
Tóm tắt:
Đổng Kim Lân củng cố lực lượng và tiếp tục chiến đấu chống Tạ Thiên Lăng. Cánh thái sư cố thủ trong thành, Tạ Thiên Lăng bắt mẹ của Đổng Kim Lân làm con tin, nếu Kim Lân phá thành chúng sẽ giết mẹ ông.
Giá trị nội dung:
- Là một trong những vở tuồng mẫu mực nhất trong nghệ thuật Tuồng.
- Nội dung của vở “Sơn Hậu” phản ánh tinh thần của giới sĩ phu hồi hậu bán thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn bắt đầu suy vong, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta.
Giá trị nghệ thuật:
- Ngôn ngữ nôm na, mộc mạc, gần với khẩu ngữ hơn là gần với ngôn ngữ bác học
II. Tìm hiểu chi tiết tác phẩm Hồn thiêng đưa đường
Sự khác biệt giữa đoạn trích tuồng Sơn Hậu (tuồng cung đình) với đoạn trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến (tuồng dân gian)
- Trong đoạn trích cũng như trong toàn vở kịch, tác giả sử dụng rất nhiều lối nói đối với tần số xuất hiện khá dày của từ ngữ Hán Việt. Điều đó tạo nên không khí trang trọng của vở kịch. Mượn chuyện nước người để nói nước mình là thủ pháp quen thuộc của văn học trung đại. Bởi các tác phẩm tuồng cung đình thường được biểu diễn tại những nơi trang trọng để giáo dục lòng trung nghĩa. Nhưng ngôn ngữ Việt vẫn là chủ yếu chứ không phải từ Hán Việt. Nói chung tiếng Việt trong Sơn Hậu nôm na, mộc mạc, gần với khẩu ngữ hơn là gần với ngôn ngữ bác học như trong các truyện Nôm hay thể ngâm khúc của thời này.
- Ngôn ngữ trong Ngao sò ốc hến là ngôn ngữ dân gian, từ địa phương, từ khẩu ngữ thông tục sử dụng hàng ngày.
Chất bi hùng trong vở kịch
Chất bi hùng của sự kiện và nghĩa vua tôi, tình huynh đệ được thể hiện trong đoạn trích – một trong những điều tạo nên sức hấp dẫn mê hoặc của tuồng đối với khán giả thời trước.
* Nội dung chính “Hồn thiêng đưa đường”:
- Đổng Kim Lân củng cố lực lượng và tiếp tục chiến đấu chống Tạ Thiên Lăng. Cánh thái sư cố thủ trong thành, Tạ Thiên Lăng bắt mẹ của Đổng Kim Lân làm con tin, nếu Kim Lân phá thành chúng sẽ giết mẹ ông.
* Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:
- Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa đoạn trích tuồng Sơn Hậu (tuồng cung đình) với đoạn trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến (tuồng dân gian) đã học trước đó.
- Trong đoạn trích cũng như trong toàn vở kịch, tác giả sử dụng rất nhiều lối nói đối với tần số xuất hiện khá dày của từ ngữ Hán Việt. Điều đó tạo nên không khí trang trọng của vở kịch. Mượn chuyện nước người để nói nước mình là thủ pháp quen thuộc của văn học trung đại. Bởi các tác phẩm tuồng cung đình thường được biểu diễn tại những nơi trang trọng để giáo dục lòng trung nghĩa. Nhưng ngôn ngữ Việt vẫn là chủ yếu chứ không phải từ Hán Việt. Nói chung tiếng Việt trong Sơn Hậu nôm na, mộc mạc, gần với khẩu ngữ hơn là gần với ngôn ngữ bác học như trong các truyện Nôm hay thể ngâm khúc của thời này.
- Ngôn ngữ trong Ngao sò ốc hến là ngôn ngữ dân gian, từ địa phương, từ khẩu ngữ thông tục sử dụng hàng ngày.
- Chất bi hùng của sự kiện và nghĩa vua tôi, tình huynh đệ được thể hiện trong đoạn trích – một trong những điều tạo nên sức hấp dẫn mê hoặc của tuồng đối với khán giả thời trước.
- Tuồng cổ mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, vì vậy, chất bi hùng được coi là một đặc trưng thẩm mỹ đặc trưng của loại hình nghệ thuật truyền thống này.

Hãy đăng nhập để bình luận
Đăng nhập bằng facebook hoặc google để bình luận .




