Top 14 lễ hội truyền thống ở Việt Nam

14179

Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với...xem thêm ...

Top 0
(có 0 lượt vote)

Tết Nguyên Đán

Tết Nguyên Đán là dịp lễ đầu năm Âm lịch quan trọng và có ý nghĩa nhất ở Việt Nam. “Tết” là cách đọc âm Hán - Việt của chữ “tiết”, “nguyên” theo chữ Hán có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”.


Tết Nguyên Đán của Việt Nam được tính theo Âm lịch, muộn hơn Tết Dương lịch (hay Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21/01 Dương lịch và sau ngày 19/02 Dương lịch mà thường chỉ rơi vào khoảng giữa những ngày này.


Thời gian diễn ra Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 - 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).


Với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán không chỉ là khoảng thời gian chuyển giao giữa năm cũ và năm mới Âm lịch mà nó còn chứa đựng nhiều ý nghĩa tâm linh, văn hóa... Theo quan niệm phương Đông, đây là khoảng thời gian trời đất có sự giao hòa và con người trở nên gần với thần linh.


Tết Nguyên Đán xưa là dịp để người nông dân bày tỏ lòng thành kính đến các vị thần linh như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời... và cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Bên cạnh đó, đây còn được coi là ngày “làm mới”, ngày để mọi người có thể hy vọng vào một năm mới an lành, sung túc, thuận lợi trong cả năm và gác lại mọi điều không may mắn trong năm cũ. Do vậy, vào dịp Tết, nhà nào cũng tất bật dọn dẹp, sắm sửa, trang hoàng nhà cửa cho thật đẹp.


Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn. Trong dịp Tết, các gia đình thường tụ họp chúc Tết nhau, cùng nhau thắp nén hương tưởng nhớ ông bà, Tổ tiên, tạ ơn ông bà, Tổ tiên đã phù hộ trong suốt một năm qua. 

Tết Nguyên Đán là dịp lễ đầu năm Âm lịch quan trọng và có ý nghĩa nhất ở Việt Nam ảnh 1
Tết Nguyên Đán là dịp lễ đầu năm Âm lịch quan trọng và có ý nghĩa nhất ở Việt Nam
Những ngày này mọi người trên cả nước đều nghỉ ngơi, đi thăm gia đình, dòng họ, bạn bè... đi chùa hay nhà thờ cầu bình an, hái lộc đầu năm. ảnh 3
Những ngày này mọi người trên cả nước đều nghỉ ngơi, đi thăm gia đình, dòng họ, bạn bè... đi chùa hay nhà thờ cầu bình an, hái lộc đầu năm.
Top 1
(có 0 lượt vote)

Giỗ Tổ Hùng Vương

Giỗ tổ Hùng Vương hay còn gọi là Lễ hội Đền Hùng hoặc Quốc giỗ là một ngày lễ truyền thống của Người Việt nhằm tưởng nhớ công lao dựng nước của các vua Hùng Vương. Nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và được người dân Việt Nam trên toàn thế giới kỷ niệm.


Ngày giỗ Hùng Vương đã được các triều đại phong kiến công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam. Từ thời xưa, các triều đại quân chủ và phong kiến Việt Nam đã quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch.


Lễ giỗ tổ Hùng Vương được diễn ra vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch, tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng, và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng.


Lễ hội đền Hùng hiện được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thành giỗ quốc Tổ tổ chức lớn vào những năm chẵn. Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội:

  • Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu, nhiều màu sắc của rất nhiều cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương.
  • Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên.

Về phần hội, có nhiều trò chơi dân gian được tổ chức trong dịp Lễ lớn của dân tộc này. Đó là những cuộc thi hát xoan (tức hát ghẹo), một hình thức dân ca đặc biệt của Phú Thọ, những cuộc thi vật, thi kéo co, hay thi bơi trải ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi các vua Hùng luyện tập các đoàn thủy binh luyện chiến.

Giỗ Tổ Hùng Vương trở thành một ngày lễ lớn của dân tộc Việt Nam. Nó nhắc nhở chúng ta luôn hướng về cội nguồn, cùng chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp hơn. ảnh 1
Giỗ Tổ Hùng Vương trở thành một ngày lễ lớn của dân tộc Việt Nam. Nó nhắc nhở chúng ta luôn hướng về cội nguồn, cùng chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp hơn.
Đến hẹn lại lên, vào ngày này người dân khắp nơi trên mọi miền đất nước và những Kiều bào nước ngoài quy tụ về đây để tưởng nhớ công ơn các vị vua Hùng. ảnh 2
Đến hẹn lại lên, vào ngày này người dân khắp nơi trên mọi miền đất nước và những Kiều bào nước ngoài quy tụ về đây để tưởng nhớ công ơn các vị vua Hùng.
Top 2
(có 0 lượt vote)

Lễ hội Chùa Hương

Lễ hội Chùa Hương là một lễ hội của Việt Nam, được tổ chức ở khu thắng cảnh chùa Hương (hay Hương Sơn) nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Khu thắng cảnh chùa Hương là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. 


Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong. Đây là một lễ hội lớn được tổ chức hằng năm, thu hút số lượng đông đảo các Phật tử trên cả nước tham gia hành hương.


Lễ hội Chùa Hương không chỉ là một lễ hội du xuân thông thường mà còn có ý nghĩa rất lớn, ghi đậm dấu ấn văn hóa, tín ngưỡng thờ của Bắc Bộ. Phần lễ thể hiện tín ngưỡng thờ cúng của một tổng thể tôn giáo ở Việt Nam bao gồm Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo.


Phần hội lại là sự kết hợp những nét văn hóa dân tộc độc đáo với vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời. Du khách đến với lễ hội chùa Hương không chỉ là để hướng đến những bậc siêu nhiên, thần thánh mà còn là để cảm nhận sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, giữa con người ở mọi chốn cùng nhau hẹn đến một điểm tạo thành một nét đẹp đoàn kết của dân tộc.


Ngoài ra, lễ hội chùa Hương thể hiện khát vọng hòa hợp giữa thực và mơ, tiên và tục - thực là nền tảng, mơ là uất vọng - trên cái nền mùa xuân tươi sáng mà con người Việt Nam chất phác, nhân ái thuở xưa cảm nhận hành động và trao truyền.


Chùa Hương là một trong những điểm du lịch tâm linh hấp dẫn ở miền Bắc đặc biệt là dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội chùa Hương diễn ra từ tháng 1 đến tháng 3 Âm lịch thu hút rất nhiều phật tử và khách du lịch trong nước lẫn quốc tế. Thời gian khai hội chùa Hương thường vào ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm, ngày này vốn là ngày mở cửa rừng của người dân địa phương sau này trở thành ngày khai hội. Lễ hội kéo dài đến hết tháng 3 Âm lịch nhưng đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng Giêng đến 18 tháng 2 Âm lịch.


Trong suốt mùa lễ hội, tại chùa Trong luôn có lễ dâng hương, gồm có hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng sẽ có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chạy đàn rồi mới tiến cúng đồ lễ lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn, hai vị tăng ni còn thực hiện các động tác múa rất dẻo và đẹp mắt, ít thấy ở các lễ hội khác. 


Ngoài phần lễ, khi đến tham quan chùa Hương, du khách còn được hòa mình vào những hoạt động văn hóa, lễ hội tại nơi đây. Lễ hội chùa Hương là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn trên suối Yến...

Lễ hội chùa Hương hay Trẩy hội chùa Hương là một lễ hội của Việt Nam, nằm ở Mỹ Đức-Hà Nội. ảnh 1
Lễ hội chùa Hương hay Trẩy hội chùa Hương là một lễ hội của Việt Nam, nằm ở Mỹ Đức-Hà Nội.
Hàng vạn du khách nô nức chảy hội Chùa Hương trước ngày khai hội mỗi năm ảnh 2
Hàng vạn du khách nô nức chảy hội Chùa Hương trước ngày khai hội mỗi năm
Top 3
(có 0 lượt vote)

Lễ hội Gióng

Lễ hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc nổi lên như một lễ hội đặc biệt trong số hơn 7.000 lễ hội dân gian ở nước ta. Hội Gióng diễn ra vào ngày 9 và 10 tháng 4 (Âm lịch) được ví như “một bảo tàng văn hóa, lưu giữ nhiều lớp phù sa văn hóa - tín ngưỡng”.


Lễ hội ẩn tàng cả hệ tư tưởng đạo lý và triết học, nhằm thể hiện sự hòa hợp trong gia đình, trong quốc gia, đồng thời hướng tới mong ước thiên hạ thái bình. Là một vị thánh trong Tứ bất tử của người Việt châu thổ Bắc bộ, Thánh Gióng được phụng thờ ở các làng thuộc các huyện Gia Lâm, Sóc Sơn, Từ Liêm, Thường Tín và quận Long Biên thuộc thành phố Hà Nội.


Lễ hội Thánh Gióng ở xã Phù Đổng (huyện Gia Lâm) là lễ hội ở nơi sinh, lễ hội đền Sóc ở huyện Sóc Sơn là lễ hội ở nơi một nhân vật huyền thoại đã được lịch sử hóa, thành một nhân vật tín ngưỡng, một anh hùng dân tộc. Giá trị độc đáo của lễ hội Thánh Gióng là người dân tái hiện chiến công của người anh hùng bằng một hội trận, nhưng là một hội trận biểu trưng.


Hội Gióng là lễ hội đầu tiên ở nước ta được lập hồ sơ để trình UNESCO xem xét, công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hội Gióng là một trong những lễ hội lớn của cả nước, miêu tả lại toàn bộ cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của cha ông ta.


Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là lễ hội được cộng đồng bảo tồn, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, coi như một phần bản sắc của họ, chứa đựng những sáng tạo mang tầm nhân loại, thể hiện khát vọng về một cuộc sống thịnh vượng cho mỗi gia đình, về một nền hòa bình cho đất nước…

Đây là lễ hội truyền thống được tổ chức để tưởng nhớ và ca ngợi chiến công của người anh hùng Thánh Gióng. ảnh 1
Đây là lễ hội truyền thống được tổ chức để tưởng nhớ và ca ngợi chiến công của người anh hùng Thánh Gióng.
Lễ hội diễn ra chính thức vào ngày 9 tháng 4 âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ công ơn to lớn của anh hùng Thánh Gióng. ảnh 2
Lễ hội diễn ra chính thức vào ngày 9 tháng 4 âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ công ơn to lớn của anh hùng Thánh Gióng.
Top 4
(có 0 lượt vote)

Lễ hội đền Hai Bà Trưng - Mê Linh

Tết đến, xuân về, mời bạn ngược sông Hồng, về vùng đất cổ Mê Linh thăm viếng Hai Bà Trưng để tĩnh tâm và bồi đắp lòng tự hào, tự tôn của dòng giống Lạc Hồng. Với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" sau khi Hai Bà Trưng tạ thế, nhân dân ở nhiều nơi đã lập đền thờ để ghi nhớ công đức của Hai Bà. Trong số 103 nơi thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh ở 9 tỉnh, thành phố trong cả nước (riêng huyện Mê Linh có 25 di tích ở 13 xã).


Trong đó, đền Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh là có ý nghĩa quan trọng nhất bởi ở đây không chỉ là nơi lưu lại dấu thiêng về 2 vị nữ anh hùng thời thơ ấu, lúc bình sinh, mà còn là nơi lưu niệm về quá trình chuẩn bị khởi nghĩa Hai Bà Trưng của dân tộc hồi đầu Công nguyên.


Lễ hội được tổ chức hàng năm là một hoạt động văn hóa tín ngưỡng nhằm tôn vinh công đức của hai vị nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc - Trưng Nhị và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Ở Đồng Nhân là lễ rước nước và múa đèn, ở Hát Môn là dâng cúng 100 chiếc bánh trôi, tượng trưng cho Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm con Lạc Hồng; còn ở Hạ Lôi - Mê Linh, nơi Hai Bà phất cờ khởi nghĩa và đóng đô, nét độc đáo nhất của lễ hội là lễ giao kiệu. Hội được tổ chức từ mồng 6 đến mồng 10 tháng Giêng.


Ngày nay, quần thể di tích lịch sử quốc gia Đền Hai Bà Trưng cơ bản đã hoàn thành. Đền thờ Hai Bà Trưng là di tích lịch sử văn hoá linh thiêng không chỉ của người dân Mê Linh mà còn với người dân cả nước. Đây là minh chứng cho tinh thần yêu nước, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Lễ hội là hoạt động tưởng nhớ công ơn Hai Bà, cũng là hoạt động thiết thực nhằm giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ.

Người Việt Nam xem Hai Bà là anh hùng của dân tộc nên đã lập đền thờ ở nhiều nơi. ảnh 1
Người Việt Nam xem Hai Bà là anh hùng của dân tộc nên đã lập đền thờ ở nhiều nơi.
Lễ hội đền Hai Bà Trưng - Mê Linh ảnh 2
Lễ hội đền Hai Bà Trưng - Mê Linh
Top 5
(có 0 lượt vote)

Lễ hội Gò Đống Đa

Lễ hội Gò Đống Đa diễn ra hàng năm vào ngày mùng 5 tết Nguyên Đán. Đây là lễ hội chiến thắng, được tổ chức để tưởng nhớ tới công tích lẫy lừng của vua Quang Trung - người anh hùng áo vải huyền thoại trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.


Lễ hội gò Đống Đa không chỉ thu hút người Hà Nội, mà người từ khắp nơi còn về chung vui. Ngay từ sáng sớm, những con đường về gò đã nghìn nghịt người. Không khí xuân tràn ngập. Mặt người rạng rỡ. Ai cũng chung niềm tự hào chiến thắng.

Lễ hội gò Đống Đa chính là lễ hội chiến thắng. Trong ngày hội có nhiều trò chơi vui khoẻ, thể hiện rõ tinh thần thượng võ. Trong đó, trò rước Rồng lửa Thăng Long là độc đáo nhất.


Cửa đình làng Khương Thượng từ tinh mơ đã mở rộng, khói hương lan toả. Các vị chức sắc và bô lão trong làng tề tựu đông đủ chuẩn bị cho cuộc đại lễ. Đến gần 12 giờ trưa, từ đình làng Khương Thượng đến gò Đống Đa, nhân dân tiến hành đám rước thần mừng chiến thắng. Đi sau cùng đám rước là hình tượng Rồng Lửa. Thanh niên hai làng Đồng Quang và Khương Thượng mặc những bộ trang phục giống nhau đi quanh đám rước Rồng Lửa và biểu diễn côn quyền tái hiện lại chiến trận năm xưa, biểu dương khí thế của nghĩa quân Tây Sơn.


Từ sau ngày giải phóng thủ đô (10/10/1954), lễ hội gò Đống Đa được coi là Quốc lễ. Những ngày này, tại Bình Định- quê hương của vị Hoàng đế áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ, người dân cũng vô cùng náo nức. Khu nhà thờ 3 anh em Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ, nhân dân dâng cúng hương hoa trong niềm thành kính và tự hào vô hạn.

Đây là lễ hội được tổ chức nhằm ăn mừng chiến thắng và tưởng nhớ công lao to lớn của vua Quang Trung tại gò Đống Đa ảnh 1
Đây là lễ hội được tổ chức nhằm ăn mừng chiến thắng và tưởng nhớ công lao to lớn của vua Quang Trung tại gò Đống Đa
Vua Quang Trung- vị tướng tài ba của dân tộc. ảnh 2
Vua Quang Trung- vị tướng tài ba của dân tộc.
Top 6
(có 0 lượt vote)

Hội Lim

Vào mỗi dịp đầu xuân, ai nấy cũng hứng khởi và chờ đón những lễ hội diễn ra hàng năm tại nhiều nơi. Và một trong số những lễ hội truyền thống nổi tiếng ai cũng biết chính là Hội Lim Bắc Ninh. Hội Lim là hội của những làng xã cổ nằm quanh núi Lim và đôi bờ sông Tiêu Tương, là lễ hội lớn của vùng, thể hiện một cách sâu nhất văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của người dân xứ Kinh Bắc.


Không gian lễ hội lấy đồi Lim làm trung tâm, có chùa Lim – nơi thờ ông Hiếu Trung Hầu – người sáng lập tục hát Quan họ và diễn ra tại 3 địa phương bao quanh là: xã Nội Duệ, xã Liên Bão và thị trấn Lim. Hội Lim thường được kéo dài trong khoảng 3 ngày (từ ngày 12 đến 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm), trong đó ngày 13 là chính hội với nhiều hoạt động tập trung. Bởi vậy mà du khách cũng tập trung du lịch Bắc Ninh vào ngày 13 để có mặt tại hội Lim trong chính hội.


Hội Lim bắt đầu bằng một lễ rước. Thành phần đoàn rước là những người dân được mặc bộ lễ phục thời xưa với màu sắc sặc sỡ. Trong ngày lễ chính (ngày 13 tháng Giêng) với các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng các làng, các danh thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy, dâng hương cúng Phật, cúng bà mụ Ả ở chùa Hồng Ân. Ngoài phần lễ, hội còn có nhiều trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm… và đặc sắc hơn cả là phần hát hội.


Truyền thống xa xưa để lại một phong tục cuốn hút và say mê đặc biệt mà chỉ Bắc Ninh mới có, đó là các sinh hoạt văn hóa hát dân ca Quan họ – loại hình dân ca đã trở thành tài sản văn hóa chung của dân tộc. Hát dân ca Quan họ diễn ra từ ngày 12 tháng Giêng tại Lim (sân chùa Hồng Ân và các trại Quan họ) và khắp tại các chùa, đình.


Hội hát Quan họ Bắc Ninh diễn ra ở bất cứ nơi đâu: trong nhà, trên sân đình, trước cửa chùa hay bồng bềnh trên những thuyền thúng giữa ao, hồ – dấu tích xưa của dòng Tiêu Tương đã một thời vang vọng tiếng hát Trương Chi làm say đắm nàng Mỵ Nương xinh đẹp. Chỉ cần nơi đó có các liền anh, liền chị.


Hội Lim là một lễ hội truyền thống chắc chắn những người yêu thích du lịch hay cả những người yêu nét đẹp văn hóa dân tộc cũng nên trải nghiệm. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm… như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con người và tạo vật.


Cách các ông, các bà tổ chức hội Lim cũng thật đặc biêt, mỗi biểu tượng, cử chỉ như mang trong mình thứ gì đó tinh tế lạ thường của ngừoi kinh Bắc. Bởi vậy, chẳng phải ngẫu nhiên mà Quan họ trở thành văn hóa phi vật thể, nét văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.


Lễ rước ở Hội Lim ảnh 1
Lễ rước ở Hội Lim
Hát dân ca Quan họ diễn ra từ ngày 12 tháng Giêng tại Lim (sân chùa Hồng Ân và các trại Quan họ) và khắp tại các chùa, đình. ảnh 2
Hát dân ca Quan họ diễn ra từ ngày 12 tháng Giêng tại Lim (sân chùa Hồng Ân và các trại Quan họ) và khắp tại các chùa, đình.
Top 7
(có 0 lượt vote)

Lễ hội Ka-tê

Lễ hội Ka-tê là một trong những lễ hội quan trọng và mang đậm tính dân gian lớn nhất của người Chăm hiện nay. Có thể, xa xưa, Lễ hội Katê chung cho người Chăm cả hai cộng đồng tôn giáo. Sau thế kỷ XIII, một bộ phận người Chăm tiếp nhận Hồi giáo (sau này thành đạo Bàni) nên tổ chức Lễ hội Ramưwan theo quy định của tôn giáo. Quá trình bản địa hóa các yếu tố văn hóa tôn giáo, hình thành nên hệ thống lễ hội, trong đó có Lễ hội Katê mang đậm tính dân gian.


Katê là lễ cúng để tưởng nhớ thần Cha (Ngap padhi phuel bilan Katê sak ka yang po yang Amâ), còn Cambun là Lễ cúng tưởng nhớ thần Mẹ. Thần Cha thuộc “dương” còn thần Mẹ thuộc “âm” nên Katê được tổ chức vào thượng tuần trăng (1 tháng 7 lịch Chăm), Cambun được tổ chức vào hạ tuần trăng (15 tháng 9 lịch Chăm), đều được tổ chức ở đền/tháp.


Lễ hội Katê được diễn ra trong một không gian rộng lớn và thời gian kéo dài. Ngày mồng 1 tháng 7 lịch Chăm được gọi là ngày lễ chính tại đền/tháp. Còn Lễ hội Katê kéo dài cả tháng, nên mới có câu “bilan Katê” (tháng Katê). Đến với Lễ hội Katê du khách sẽ được hòa vào đoàn người rước Y trang (của Thần Mẹ xứ sở Pô Inư Nư gar, Vua Pô Klông Garai, Vua Pô Rômê) do người Raglai gìn giữ.


Các lễ chính trong ngày lên tháp (1/7 lịch Chăm) gồm có: Lễ rước y trang lên tháp, lễ mở cửa tháp, lễ mộc dục (tắm tượng và mặc y phục) và cuối cùng là đại lễ (lễ chính). Sau Katê đền/tháp là Katê làng. Các làng chọn ra các ngày thứ tư hoặc thứ  bảy trong tuần để tổ chức đồng thời thông báo cho cả làng biết và mang bánh trái đến cúng tại nhà làng.


Katê làng nhằm để cúng thần làng và tưởng nhớ những người có công đối với làng. Sau Katê làng là đến Katê gia đình, dòng tộc. Trước tiên nó được tổ chức trong gia đình nhà Cả sư Po Adhia sau đó mới đến các gia đình dòng tộc khác. Ngày nay, Katê đã trở thành một lễ hội mang đầy đủ tính chất “lễ” và “hội”, Katê không chỉ là một nghi lễ hay lễ hội mà nó đã thực sự trở thành ngày Tết đối với đồng bào Chăm nói chung và người Chăm nói riêng.

Lễ hội Katê chính là giây phút thiêng liêng của người trần thế. ảnh 1
Lễ hội Katê chính là giây phút thiêng liêng của người trần thế.
Bên cạnh đó còn có những màn diễn văn nghệ truyền thống của những cô gái và các chàng trai dân tộc Chăm. ảnh 2
Bên cạnh đó còn có những màn diễn văn nghệ truyền thống của những cô gái và các chàng trai dân tộc Chăm.
Top 8
(có 0 lượt vote)

Lễ hội chùa Bái Đính

Khu tâm linh núi chùa Bái Đính nằm trong Quần thể Danh thắng Tràng An, cách thành phố Ninh Bình khoảng 15 km, là ngôi chùa lớn nhất Việt Nam, được biết đến với nhiều kỷ lục như tượng Phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á, chuông đồng lớn nhất Đông Nam Á, hành lang có nhiều tượng Phật nhất…


Hàng năm, lễ hội chùa Bái Đính bắt đầu khai mạc vào ngày mùng 6 tháng Giêng và kéo dài đến hết tháng 3 Âm lịch tại chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn. Đây là một trong các lễ hội lớn nhất miền Bắc những ngày đầu xuân, buổi lễ mở đầu cho những lễ hội hành hương về vùng đất cố đô Hoa Lư, Ninh Bình.


Lễ hội gồm có hai phần: 


Phần lễ: gồm các nghi thức thắp hương thờ Phật, tưởng nhớ công đức Thánh Nguyễn Minh Không, lễ tế thần Cao Sơn và chầu thánh Mẫu Thượng Ngàn. Lễ hội được bắt đầu bằng nghi thức rước kiệu mang bài vị Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà chúa Thượng Ngàn từ khu chùa cổ ra khu chùa mới để tiến hành phần hội.


Phần hội: có các hoạt động mang tính chất văn hóa tâm linh như: rước kiệu, viết thư pháp; các trò chơi dân gian; thăm thú hang động, vãn cảnh chùa, thưởng thức nghệ thuật hát Chèo, Xẩm, Ca trù đất Cố Đô, tổ chức các hoạt động triển lãm tranh ảnh văn hóa nghệ thuật giới thiệu về chùa Bái Đính, khu du lịch sinh thái Tràng An. Đại biểu, tăng ni và du khách cùng tham gia nghi lễ thả chim phóng sinh, cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, đất nước phồn vinh, no ấm.


Lễ hội Bái Đính hàng năm luôn thu hút đông đảo khách du lịch đến tham gia. Du khách đến đây không chỉ chiêm bái, dâng hương lễ Phật mà còn du xuân, vãn cảnh, chiêm ngưỡng cảnh sắc kỳ vĩ, hòa mình cùng không gian thiêng rộng lớn, thanh tịnh nơi cõi Phật.

Lễ hội Chùa Bái Đính ảnh 1
Lễ hội Chùa Bái Đính
Lễ hội Chùa Bái Đính ảnh 2
Lễ hội Chùa Bái Đính
Top 9
(có 0 lượt vote)

Lễ hội cầu ngư

Lễ Hội Cầu Ngư là lễ hội của nhân dân làng Thai Dương Hạ, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Lễ hội tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trương Quý Công (biệt danh của Trương Thiều), người gốc Thanh Hoá, có công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành.


Từ chiều hôm trước ngày khai mạc, hai giáp Thượng và Hạ đã bắt đầu cúng đế. Đến khuya, một buổi tế "cầu an, cầu ngư" lại được cử hành. Một vị cao tuổi trong làng thông thạo nghi lễ đọc bản văn tế. Tất cả các chủ thuyền ăn mặc chỉnh tề áo dài đen, quần trắng, đầu chít khăn đỏ lần lượt vào làm lễ. Trước lúc vào lễ chính, các bô lão trong làng thắp hương cầu khấn đất trời phù hộ cho con em làng chài sức khỏe, ra khơi gặp sóng yên, bể lặng…


Các nhà trong làng đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu, thuyền tại lễ hội đều chăng đèn kết hoa. Ngay trong chiều 11 (âm lịch) tháng Giêng, lễ hội cầu ngư ở làng Thai Dương được bắt đầu bằng lễ cung nghinh và tiếp tục diễn ra suốt đêm qua với các lễ cầu an, lễ chánh tế và lễ tưởng niệm.


Sáng ngày 12 (âm lịch), chánh lễ cầu ngư bắt đầu diễn ra, Lễ tế thần diễn ra vào khoảng 2 giờ sáng. Một bài văn tế dâng lên các vị thần linh và tiền bối của làng, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, đánh bắt được mùa, dân làng no ấm, mọi người hạnh phúc. Khoảng 4 giờ sáng lễ chánh tế kết thúc. Tiếp sau đó là phần hội cầu ngư Thuận An. Có nhiều màn diễn diễn tả những sinh hoạt nghề biển.


Trò diễn "bủa lưới" là trò diễn trình nghề mang đậm tính chất lễ nghi. Tiếp theo trò bủa lưới bắt cá là màn trình diễn của các ngư dân bán thuỷ hải sản cho các "bà rỗi" (người bán cá) đang chờ sẵn. Màn mua bán kéo dài khoảng hơn một giờ.


Tiếp theo là phần hội với những trò diễn trên cạn cùng hội đua ghe truyền thống và đoàn tàu xuất quân đánh bắt vụ nam, vụ cá đầu năm của ngư dân vùng biển. Chương trình ngày hội được tiếp tục bằng cuộc đua trải trên phá Tam Giang. Cuộc đua mang ý nghĩa cầu cho no ấm, vừa được mùa cá, vừa được mùa lúa, thoả mãn ước vọng no ấm của cư dân.


Lễ hội Cầu Ngư là ngày hội của cả cộng đồng, tràn đầy lạc quan và hy vọng. Lễ hội là nguồn cổ vũ cho cư dân có thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn trong nghề sông nước. Đây là lễ hội được tổ chức đều đặn ba năm một lần với quy mô lớn, gồm nhiều hoạt động tái hiện sinh hoạt văn hóa của ngư dân vùng biển. Có từ hàng trăm năm trước, lễ hội cầu ngư làng Thái Dương được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là một trong những lễ hội quy mô, độc đáo và hấp dẫn của tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Lễ hội diễn ra vào ngày 12 tháng giêng âm lịch, nhằm tưởng nhớ vị thành hoàng của làng là Trương Quý Công - người gốc Thanh Hóa. ảnh 1
Lễ hội diễn ra vào ngày 12 tháng giêng âm lịch, nhằm tưởng nhớ vị thành hoàng của làng là Trương Quý Công - người gốc Thanh Hóa.
Lễ hội bày tỏ khát vọng được bình yên trong cuộc sống của ngư dân, những con người luôn phải đối mặt với nhiều bất trắc khi lênh đênh trên biển cả. ảnh 2
Lễ hội bày tỏ khát vọng được bình yên trong cuộc sống của ngư dân, những con người luôn phải đối mặt với nhiều bất trắc khi lênh đênh trên biển cả.
Top 10
(có 0 lượt vote)

Hội đua voi

Lễ hội đua voi có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống các lễ hội cổ truyền của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung, người Mnông nói riêng nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ săn bắt, thuần dưỡng voi. Đây là một lễ hội độc đáo, hấp dẫn được tổ chức hai năm một lần vào tháng Ba âm lịch, tại Buôn Đôn (Đăk Lăk) nơi được mệnh danh là thủ phủ của loài voi.


Đối với Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đăk Lăk nói riêng thì đây là một lễ hội nổi tiếng và sôi động. Được tổ chức thường niên vào tháng 3 trong khoảng 3 ngày. Với nhiều hoạt động vui chơi giải trí hấp dẫn. Đến với lễ hội này hứa hẹn sẽ khiến cho du khách cực kỳ thích thú và hào hứng.


Một số nội dung quan trọng của lễ hội đua voi ở Bản Đôn. Đó là lễ cúng bến nước, lễ cúng sức khỏe cho voi, lễ ăn trâu mừng mùa (đâm trâu), voi đá bóng, voi chạy, voi bơi vượt sông Sê rê pôk. Ngoài ra còn có các lễ hôi: hội thi văn hóa ẩm thực các dân tộc, lễ cúng lúa mới mừng được mùa và Hội thi giã gạo.


Ngoài ra, du khách đến đây cũng được thưởng thức ẩm thực độc đáo, đậm đà bản sắc của các dân tộc tại chỗ và được cưỡi voi tham quan buôn làng, trải nghiệm với hành trình cưỡi Voi lội sông xrêpốk. Trước khi vào cuộc đua, một tiếng tù và vút lên, theo lệnh điều khiển của người trong ban tổ chức hội, từng tốp voi được những người quản tượng điều khiển đứng vào vị trí xuất phát.


Vì là lễ hội của người Tây Nguyên và tổ chức ở núi rừng nên mang đậm chất hoang dã và rất gần gũi với thiên nhiên, mang không khí tưng bừng, nhộn nhịp như được hòa mình vào cuộc sống hoang dã của núi rừng, thiên nhiên nơi đây.

Hội Đua Voi nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. ảnh 1
Hội Đua Voi nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Lễ hội đua voi có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống các lễ hội cổ truyền của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ảnh 2
Lễ hội đua voi có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống các lễ hội cổ truyền của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
Top 11
(có 0 lượt vote)

Lễ hội bà Chúa Xứ

Lễ hội Bà Chúa Xứ (còn gọi là lễ Vía Bà) được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 đến 27/4 âm lịch. Tại Miếu Bà Chúa Xứ thuộc phường Núi Sam (trước là xã Vĩnh Tế), thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang. Phần lễ của lễ Vía Bà gồm năm lễ: Lễ tắm Bà, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Túc Yết, Lễ xây chầu, Lễ Chánh tế.


Lễ tắm Bà: Lễ này được tổ chức vào lúc 24 giờ đêm 23 rạng ngày 24. Nói là tắm bà, nhưng thực tế là lau lại bụi bặm trên tượng thờ và thay áo mão cho Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó mọi người được tự do lễ bái.


Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà: Lễ này được tiến hành vào lúc 15 giờ ngày 24.Các bô lão trong làng và Ban quản trị lăng miếu lễ phục chỉnh tề sang lăng Thoại Ngọc Hầu nằm đối diện với miếu bà làm lễ Thỉnh Sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại, bà nhị phẩm Trương Thị Miệt, và bài vị Hội đồng.


Khi vào đến Miếu Bà, các bài vị trên được an vị ngôi chính điện, Ban quản trị dâng hương thỉnh an, lễ thỉnh sắc kết thúc. Tục lệ thỉnh sắc Thoại Ngọc hầu đã có từ lâu để tỏ lòng biết ơn ông là người có công khai phá vùng đất hoang vu này.


Lễ Túc Yết: Lễ được tổ chức 0 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Tất cả các bô lão trong làng và Ban quản trị lăng miếu lễ phục chỉnh tề, đứng xếp hàng hai bên trước tượng Bà. Vật cúng gồm có: một con heo trắng (đã được cạo lông mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết có ít lông heo gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa gạo muối. Ông chánh bái làm lễ dâng hương, chúc tửu, hiến trà, dâng tế, sau đó thì hóa một ít giấy vàng bạc.


Lễ xây chầu: Sau cúng túc yết là Lễ xây chầu.Ông chánh bái sẽ bước tời bàn thờ đặt giữa võ ca, hai tay cầm dùi trống nâng ngang trán khấn vái. Phía bên trái bàn thờ có một tô nước và một nhành dương liễu. Ông chánh bái ca công cầm nhành dương nhúng vào tô nước rồi vảy nước ra xung quanh, vừa đọc to những lời cầu nguyện. Đọc xong, ông chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương trở lại bàn thờ, ông đánh ba hồi trống và xướng "ca công tiếp giá", lập tức đoàn hát bộ nổi chiêng trống rộ lên và chương trình hát bộ bắt đầu. Các tuồng hát bộ sau đây thường được diễn tại miếu bà: Trần Bình Trọng, Sát Thát, Lưu Kim Đính, Trưng Nữ Vương v.v...


Lễ Chánh tế: Đến 4 giờ sáng ngày 26 cúng Chánh tế (nghi thức giống như cúng "túc yết"). Chiều ngày 27 đưa sắc Thoại Ngọc hầu về Sơn Lăng.


Phần hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với phần lễ,các hoạt động văn hoá nghệ thuật dân gian được biểu diễn như múa lân, múa mâm thao, múa đĩa chén...thu hút nhiều du khách.


Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là một lễ hội mang bản sắc dân tộc đậm nét, nhưng cũng chứa đựng nhiều màu sắc địa phương Nam Bộ. Lễ hội thực sự là một lễ hội văn hoá dân gian đáp ứng nhu cầu văn hoá xã hội, đời sống tinh thần của nhân dân.

Các nghi thức phục hiện rước Bà xuống núi sẽ được thực hiện theo nghi thức cổ truyền. ảnh 1
Các nghi thức phục hiện rước Bà xuống núi sẽ được thực hiện theo nghi thức cổ truyền.
Lễ tắm Bà thường kéo dài trong khoảng 1 tiếng, sau đó để người dân  vào thờ cúng, dâng hương và lễ vật. ảnh 2
Lễ tắm Bà thường kéo dài trong khoảng 1 tiếng, sau đó để người dân vào thờ cúng, dâng hương và lễ vật.
Top 12
(có 0 lượt vote)

Lễ hội Căm Mường

Vào những ngày tiết trời cuối đông, thời khắc chuyển giao từ năm cũ sang năm mới đến gần, vạn vật có thêm sức sống mới. Đây cũng chính là thời điểm diễn ra nhiều lễ hội truyền thống Việt Nam, trong đó có lễ hội Căm Mường (Kiêng Mường) của người dân tộc Lự ở miền núi phía Bắc nước ta. 


Lễ hội Căm Mường của đồng bào Lự ở tỉnh Lai Châu được tổ chức vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch hàng năm. Đây là dịp để bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối, thần rồng đã phù hộ cho bà con dân bản no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi.


Lễ Căm Mường là một lễ hội truyền thống Việt Nam đặc sắc, mang đậm dấu ấn của người dân vùng cao nên rất nhiều du khách mong muốn được chứng kiến một lần trong tiết đầu xuân. Cũng vì vậy, thời gian gần đây đã có rất nhiều khách du lịch đến Lai Châu vào dịp lễ hội Căm Mường.


Người Lự coi lễ hội Căm Mường là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ. Những lễ vật này do dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ, già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc.

Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc của người dân vùng cao, rất nhiều du khách mong muốn được chứng kiến một lần trong tiết đầu xuân. ảnh 1
Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc của người dân vùng cao, rất nhiều du khách mong muốn được chứng kiến một lần trong tiết đầu xuân.
Lễ hội Căm Mường. ảnh 2
Lễ hội Căm Mường.
Top 13
(có 0 lượt vote)

Lễ hội chùa Keo

Ai về lễ hội Chùa Keo, Cạnh đê Duy Nhất, dọc theo sông Hồng"... Chùa Keo từ lâu không còn đơn thuần chỉ là một di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt mà còn là biểu tượng, là niềm tự hào của mỗi người dân quê lúa. Tại chùa Keo, mỗi năm tổ chức hai mùa lễ hội. Hội Xuân được mở vào ngày mồng 4 tháng Giêng. Hội Thu được mở vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 Âm lịch và là hội chính nhằm tưởng nhớ, suy tôn Ðức thánh Thiền sư Không Lộ.

Nếu như lễ hội mùa Xuân vừa là lễ hội nông nghiệp vừa là lễ hội thi tài gắn với sinh hoạt của cư dân nông nghiệp vùng sông nước thì lễ hội mùa Thu ngoài tính chất là hội thi tài giải trí còn mang đậm tính chất của một lễ hội lịch sử. Lễ hội chùa Keo hiện còn bảo lưu nguyên vẹn nhiều nghi thức truyền thống như: Khai chỉ mở cửa đền Thánh, tế lễ Phật thánh trong nội tự chùa, rước kiệu Đức thánh…


Lễ hội chùa Keo với sự tích về Thiền sư Không Lộ phản ánh một thời kỳ phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. Lễ hội không chỉ mang màu sắc tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng lành mạnh của nhân dân mà còn là môi trường bảo tồn, lưu truyền văn hóa truyền thống và là biểu tượng của sự cố kết cộng đồng. Lễ hội chùa Keo cũng là nơi cư dân nơi đây nói riêng và khách thập phương gửi gắm ước mơ, khát vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc.


Hiện nay, cùng với di tích chùa Keo, lễ hội chùa Keo trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách đến với Thái Bình. Tuy nhiên, lễ hội chùa Keo hiện nay không còn thực hành các cuộc thi tài như thi thày đọc, thi bơi chải, thi trống, thi kèn, múa ếch vồ… như trước.


Để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình đã phân cấp, giao huyện Vũ Thư lập Ban Quản lý di tích để quản lý và bảo vệ, phát huy giá trị di tích, lễ hội. Quy trình thực hành lễ hội và các nghi thức liên quan trong lễ hội được cộng đồng tổ chức và thực hiện gần nhất với nghi lễ truyền thống.


Biểu diễn du thuyền hát giao duyên tại Lễ hội chùa Keo ảnh 1
Biểu diễn du thuyền hát giao duyên tại Lễ hội chùa Keo
Gác chuông chùa Keo ảnh 2
Gác chuông chùa Keo

Hãy đăng nhập để bình luận

Đăng nhập bằng facebook hoặc google để bình luận .